Thời sự y học số 225 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ NHỮNG TIẾN BỘ CHỒNG LẠI MUCOVISCIDOSE.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

NGUỒN GỐC: Mặc dầu chữ “ mucoviscidose ” có từ năm 1943, là năm trong đó những đặc điểm của bệnh thật sự được xác định (nghĩa là “ bệnh của các niêm dịch nhầy nhớt ” : maladie des mucus visqueux, chữ thường được ưa thích hơn thuật ngữ Anh cystic ). Các dấu vết của bệnh này cũng đã được tìm thấy trong các mô tả triệu chứng có từ thời Trung Cổ. Vào thời kỳ đó, những dấu hiệu lâm sàng của bệnh trong những gia đình mắc phải được xem như là do bị bỏ bùa mê qủy ám. Nhiều ngạn ngữ có tính cách đặc trưng, tất cả đều xoay quanh “ cái hôn mặn ” (baiser salé) : “ bất hạnh thay cho đứa bé khi được hôn trên trán có vị mặn. Nó bị bỏ bùa mê và chẳng bao lâu nữa phải chết ” ; hay “ đứa trẻ mà cái trán khi duoc hôn có vị mặn chẳng bao lâu nữa sẽ chết ”. Có rất ít trường hợp xảy ra nơi người da đen và lại còn ít hơn nữa nơi người châu Á.
DI TRUYỀN: Vào năm 1945, tính chất di truyền của bệnh được xác lập. Nhưng vài người nghĩ rằng một sự thiếu hụt vitamine A là nguyên nhân của bệnh lý. Vào năm 1981, một mối liên hệ được thực hiện với biểu mô của các tế bào của nhiều cơ quan. Vào năm 1989, gène mà những biến dị gây nên mucoviscidose sau cùng được nhận diện. Gène này hiện diện trên cặp nhiễm sắc thể 7 và điều khiển sự tổng hợp của một protéine-canal được đặt tên là “ cystic fibrosis transmembrane conductance regulator ” hay CFTR. Protéine xuyên bào phức hợp này (được cấu tạo bởi 1480 “ miếng ”) điều hòa sự đi ra hoặc đi vào của vài yếu tố giữa bên trong tế bào và những niêm mạc tuyến khác nhau. Ngày nay ta biết rằng nhiều biến dị, ở những nơi khác nhau của gène này, có thể gây nên những bệnh lý nặng nề ít hay nhiều.
ĐIỀU TRỊ: Thuốc men đã tiến triển nhiều, mặc dầu chưa có thể chữa lành bệnh trong một số lớn các trường hợp. Nhưng vẫn còn nhiều hy vọng.

Trong nửa thế kỷ, hy vọng sống liên kết với bệnh di truyền này đã chuyển từ 7 năm lên đến hơn 50 năm, nhờ những tiến bộ về điều trị và một implication mạnh của các gia đình.
GENETIQUE. Đối với GS Gabriel, pneumopédiatre Lyon, chủ tịch của Hiệp hội mucoviscidose của Pháp, “ điều đó cần phải được xác nhận, nhưng đó là một dấu hiệu mạnh ”. Lần đầu tiên, một loại thuốc đang được phát triển, VX-770, cải thiện tình trạng của vài bệnh nhân bằng cách điều chỉnh không phải một triệu chứng, mà trực tiếp điều chỉnh một bất thuờng của protéine CFTR, nguyên nhân gây bệnh mucoviscidose. Chỉ có 4% các bệnh nhân có bất thường của protéine CFTR, do một biến dị, G551D, của gène CFTR mã hóa đối với protéine. Vào tháng hai, những kết quả đầu tiên của một thử nghiệm trên 160 người trong số những bệnh nhân này đã cho thấy rằng điều trị với VX-770 cải thiện rõ rệt chức năng hô hấp của họ. Cuối tháng ba, thử nghiệm được tiến hành trên 49 đứa trẻ từ 6 đến 11 tuổi có biến dị này (trong đó có 5 người Pháp), xác nhận tác dụng cua VX-770 ở một giai đoạn sớm. Dầu là sơ khởi, “ những kết quả được loan báo thật sự đáng phấn khởi ”, BS Anne Munck, thầy thuốc nhi khoa thuộc bệnh viện Robert-Debré (Paris), người tham gia vào thử nghiệm, đã đánh giá như vậy. Những thử nghiệm khác quy mô hơn, đã được dự kiến.
Với hơn 6000 bệnh nhân ở Pháp (một trường hợp đối với 4200 lần sinh), mucoviscidose là bệnh di truyền thường xảy ra nhất. Bệnh này là do sự vắng mặt hay sự loạn năng của một protéine-canal, CFTR, cho phép những trao đổi chlore giữa các tế bào của biểu mô phủ vài cơ quan và môi trường chung quanh. Hậu quả chính : sự sản xuất một niêm dịch dày đặc, nhầy nhớt, làm tắc nghẽn phổi và các phế quản, làm dễ những nhiễm trùng, và làm tắc ruột và các ống tụy tạng hay mật. Những người mắc bệnh cũng bị chứng vô sinh do sự ngừng phát triển (agénésie) của các ống dẫn tinh (canal déférent).
Vào ngày thứ 3 và 4 sau khi sinh, 10 đến 15% các trẻ em bị tắc ruột, iléus méconial, do sự bất túc của tụy tạng. Để có thể tiêu hóa, 80% các bệnh nhân buộc phải dùng hàng ngày những trích chất tụy tạng (extraits pancréatiques). Những yếu tố nghiêm trọng chính là thương tổn phổi, chịu trách nhiệm 75% những trường hợp tử vong liên kết với mucoviscidose. Do sự định cư vi khuẩn bởi Hemophilus, tụ cầu khuẩn, rồi pseudomonas, những nhiễm trùng kế tiếp nhau, chỉ được kềm hãm tối đa nhờ kiné liệu pháp và các kháng sinh, làm gia tăng dần dần tình trạng suy hô hấp, đôi khi đi đến chỗ phải ghép phổi. Bệnh đái đường, suy gan, bệnh loãng xương cũng có thể đi kèm theo mucoviscidose voi thể bệnh và mức độ nghiêm trọng thay đổi và không tiên đoán được, kể cả trong cùng gia đình. Tiên lượng, mặc dầu thường nặng nề, đã được cải thiện nhiều : ngày nay, 43% các bệnh nhân hơn 18 tuổi và nhờ một điều trị tốt hơn, hy vọng sống của một đứa bé bị bệnh sinh năm 2011, vượt quá 50 tuổi, so với chỉ 7 tuổi vào năm 1965.
NHỮNG TÁC DỤNG CỦA MÔI TRƯỜNG.
Được nhận diện năm 1989, CFTR là một gène dài, được biết có hơn 1600 biến dị. Chỉ khoảng một chục biến dị là hiện diện nơi hơn 1% các bệnh nhân, thường nhất là F508del (hay F508). Ở Pháp, 2 triệu người, không bị bệnh, có một gène CFTR bị biến dị. Thật vậy, bệnh mucoviscidose chỉ được thể hiện nếu đứa trẻ nhận từ mỗi bố mẹ một bản sao biến dị của gène. Trong số các bệnh nhân, 43% có một biến dị kép (F508del), trong đó cha hoặc mẹ đã truyền một bản (exemplaire) và 36% có biến dị này được liên kết với một biến dị khác. Những biến dị này được tập hợp tùy theo tác dụng của chúng : protéine CFTR không được tổng hợp (classe I), được sản xuất nhưng tức thời bị phá hủy bởi vì bất bình thường, như trong biến dị F508del (classe 2), canal không được mở, như trong biển dị G551D (classe 3), hay được mở ra nhưng không hoạt động một cách đúng đắn (classe IV), hay sản xuất quá ít CFTR (classe 5). “ Sự tương quan giữa các classe này và mức độ nghiêm trọng của các thương tổn không phải hoàn toàn, mặc dầu 3 classe đầu về mặt thống kê trùng hợp với những dạng nghiêm trọng hơn ”, GS Bellon giải thích như vậy. Do đó nảy sinh lý thuyết về môi trường hay các gène làm biến đổi (gènes modificateurs) để giải thích sự đa dạng của bệnh. Cũng có 13% các trường hợp mucoviscidose không điển hình, thể nhẹ, ngày xưa hiếm khi được nhận diện.Thật vậy, từ năm 2002, sự phát hiện bệnh mucoviscidose được thực hiện một cách hệ thống vào lúc sinh. “ Sự phát hiện này được thực hiện ở khoa sản bằng cách định lượng một enzyme, trypsine immunoréactive. Một nồng độ tăng cao có thể làm nghi ngờ sự hiện diện của bệnh mucoviscidose, và khi đó ta tìm kiếm những biến dị của CFTR sau khi được sự đồng ý của cha hoặc mẹ ”, BS Munnck đã chỉ rõ như vậy. Tùy theo các kết quả, các bố mẹ được liên lạc bởi CRCM (Centre de ressources et de compétences pour la mucoviscidose), để thực hiện một trắc nghiệm và kết quả của trắc nghiệm này sẽ xác nhận hay loại bỏ chẩn đoán mucoviscidose bằng cách định lượng chlore trong mồ hôi.
(LE FIGARO 2/5/2011)

2/ NHỮNG LOẠI THUỐC MỚI NHẮM VÀO CÁC NGUYÊN NHÂN CỦA BỆNH MUCOVISCIDOSE.
Nghiên cứu điều trị ngày càng nhắm vào những nguyên nhân trực tiếp của bệnh mucoviscidose để làm giảm những hậu quả của bệnh. VX-770, được bào chế bởi Vertex phối hợp với tổ chức từ thiện của Mỹ Cystic Fibrosis Foundation, là một loại thuốc “ potentiateur ”, tác dụng lên protéine-canal CFTR mà sự mở của canal bị xáo trộn do sự biến dị của G551D. Thuốc này làm gia tăng thời gian mở của canal và làm gia tăng lưu lượng ion chlore lưu thông các tế bào biểu mô và môi trường bên ngoài. 2 thử nghiệm quốc tế nơi những bệnh nhân trưởng thành và trẻ em mang biến dị này mang lại những kết quả tương tự nhau : lên cân, chức năng hô hấp được cải thiện và giảm chlore trong mồ hôi, chứng tỏ một tác dụng lên CFTR. Những kết quả này sẽ khiến cho Vertex xin giấy phép đưa ra thị trường (AMM : autorisation de mise sur le marché) từ nay đến cuối năm.
Một thử nghiệm khác với VX-770 đã ít có sức thuyết phục hơn nơi các bệnh nhân có hai biến dị F508del (đồng hợp tử). Đối với biến dị được mang bởi 70% các bệnh nhân này, hy vọng dựa nhiều vào một loại thuốc khác, VX-809. Liệu pháp “ điều chỉnh ” này làm dễ sự trưởng thành đúng đắn của protéine CFTR, bị ảnh hưởng bởi sự biến dị F508del. Một thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành với VX-809, đơn độc hay phối hợp với VX-770, nơi những bệnh nhân đồng hợp tử đối với F508del.
Một loại thuốc khác, PTC124 hay Ataluren tác động lên sự tổng hợp của protéine CFTR, đôi khi bị làm ngừng lại bởi một biến dị “ stop ” trước khi chấm dứt đọc mật mã bình thường. Protéine được sản xuất, quá ngắn, khi đó không hoạt động. “ PTC124 cho phép nhảy qua codon stop bất thường này và tiếp tục sự tổng hợp cho đến cùng, BS Munck đã giải thích như vậy. Hai thử nghiệm giai đoạn 3 đang được tiến hành, trong đó cũng có những bệnh nhân người Pháp tham gia.” Sau khi đã mang lại nhiều hy vọng, liệu pháp gène (thérapie génique) có vẻ xa vời hơn. “ Nguyên tắc được chứng minh, ta thành công sản xuất một protéine CFTR hoạt động bởi biểu mô hô hấp của các bệnh nhân, nhưng biểu hiện của gène không được khá dài lâu. Đó là một đường hướng cần tiếp tục thăm dò, như những người Anh có một thử nghiệm đang được thực hiện, GS Bellon đã ghi nhận như vậy.
TÁI CHÁNH KHÔNG ĐỦ
Trong nghiên cứu cơ bản, những chiến lược khác được dự kiến. “ Một trong những chiến lược này là phá vỡ những tương tác của CFTR với một protéine tế bào có tác dụng kềm hãm không cho CFTR di chuyển về màng tế bào và do đó làm nó dễ bị thoái hóa. Đường hướng khác, tìm những giải pháp thay thế cho protéine CFTR bị biến dị, bằng cách tác động lên sự vận chuyển của những ion khác, như sodium và bicarbonate hay bằng cách sử dụng những kênh chlore khác như những kênh bổ sung ”, Aleksander Edelman (Inserm U 845, Paris) đã phân tích chi tiết như vậy. Các nhóm nghiên cứu cũng đánh giá lợi ích của virus bactériophage tấn công các mầm bệnh. “ Làm bớt phản ứng viêm bằng cách làm giảm stress oxy hóa bằng những chất chống oxy hóa cũng có thể cải thiện tình trạng của các tế bào biểu mô và sự vận chuyển của các ion, làm dễ tác dụng của các loại thuốc điều chỉnh và tăng cường ”, nhà nghiên cứu chỉ rõ như vậy.
Đường hướng gène biến đổi (gène modificateur), giải thích mức độ nghiêm trọng thay đổi của bệnh, nhất là nơi những người đồng hợp tử F508del, cũng được thăm dò. “ Một công trình nghiên cứu Pháp-Mỹ nghiên cứu đường hướng này, đòi hởi tuyển mộ vài ngàn bệnh nhân ” GS Annick Clément (CHU Trousseau, Paris) đã nhấn mạnh như vậy.
(LE FIGARO 2/5/2011)

3/ HIỆU ỨNG DOPPLER.

Là nhà khoa học với trực giác thiên tài về toán học, điện học, từ học và quang học, tuy vậy Doppler đã không được công nhận bởi các đồng nghiệp trước khi xuất hiện bảng tường trình về hiệu ứng mang tên ông (effet Doppler). Rồi phải còn thêm một thế kỷ nữa mới làm y học quan tâm và làm bất tử hóa người khám phá.
Christian Andreas Doppler sinh năm 1803 ở Salzbourg, trong một gia đình giàu có gồm những thợ cả đẽo đá (maitre de tailleur de pierres), ở cách Mozart vài nhà. Vậy chẳng có gì dự định cho Doppler trở thành một nhân vật rất nổi tiếng sau này. May mắn thay, thể tạng yếu ớt của Doppler khiến ông không thể tiếp tục di theo nghề nghiệp của gia đình và sau này, khi học tiểu học và trung học có kết quả, rõ ràng là ông rất giỏi về môn khoa học. Thầy dạy của Doppler gởi gắm để ông được vào học ở Institut Polytechnique de Vienne, ở đây ông học toán và vật lý. Tốt nghiệp vào năm 21 tuổi, ông trở lại Salzbourg, ở đây ông dạy những môn học này để kiếm sống. Nhưng ông còn muốn biết thêm nữa và trở lại Vienne để tu nghiệp về cơ khí và thiên văn học, lần này ở đại học. Ông trở thành phụ tá cho giáo sư ông và vào lúc 28 tuổi, ông viết tài liệu đầu tiên trong số 51 tài liệu xuất bản khoa học.
NHỮNG NĂM THÁNG “ KHỔ CỰC ”
Từ 30 đến 32 tuổi, đối với Doppler chẳng có gì là tốt đẹp cả. Ông thất bại vì không hoàn thành được chương trình đào tạo académique để được chức giáo sư và, để sống sót, ông phải chấp nhận làm việc như thư ký trong một xưởng chế tạo bông, xa lánh tất cả mọi người. Chán nản, ông phải thực hiện những vận động cần thiết để có thể di cư qua Hoa Kỳ, ông bán của cải tài sản của mình và đi Munich, ở đây vừa đúng lúc, người ta đề nghị với ông một chức giáo sư dạy toán cơ bản và hình học ở Collège d’Enseignement Général d’Etat de Prague. Để có thể mải mê nghiên cứu ngoài chức trách nặng nề giáo sư giảng dạy, Doppler trải qua rất nhiều giờ trong những căn phòng chật hẹp và dơ bẩn. Những người đương thời đánh giá ông là quá nghiêm khắc với sinh viên và hơn nữa, cho ông là bị bệnh lao và như thế chỉ hợp với công việc trong nghĩa địa. Mặc dầu ông đưa đơn để tìm những nhiệm sở có tham vọng hơn, nhưng ông bị từ chối, ở Institut Polytechnique de Vienne cũng như ở Institut de Prague. Lúc được 33 tuổi, ông cưới Mathilde, người gốc Salzbourg, mang lại cho ông 5 người con. May mắn thay, một năm sau đám cưới, ông tìm được một nhiệm sở phó giáo sư ở Institut Technique de Prague.
HIỆU ỨNG DOPPLER.
Tài năng sư phạm của Doppler làm ông nổi tiếng và ông trở thành associé của Hội Khoa Học Hoàng Gia của Bohême. Tuy nhiên ông chỉ trở thành hội viên chính thức sau 6 năm. Vào lúc 39 tuổi, ngày 25 tháng năm 1842, chính trước hội đồng này mà ông đã trình bày công trình khiến ông sẽ trở thành nổi tiếng : “ Về ánh sáng màu của các vì sao kép và về những ngôi sao khác của bầu trời ”, áp dụng vào thiên văn học điều mà ông mô tả đối với các tần số âm thanh. Ông liên kết sự thay đổi màu sắc của ngôi sao (không thấy được bởi những kỹ thuật vào thời đó) khi nó dần dần xích lại gần trái đất. Như thế ông chứng minh hiệu ứng “ của ông ” lên các âm thanh : các nhạc công trompette điều khiển một nốt nhạc duy nhất trong một con tàu đang chuyển động, trong khi trên cạnh đường những nhạc công khác phát lại nó. Ông chứng tỏ rằng tần số âm thanh thay đổi lúc doàn tàu đến gần và đi xa. Vào năm 1844, sức khỏe của ông trở nên suy sụp và ông phải nghỉ bệnh kéo dài trong hai năm. Lúc ông 44 tuổi, ông rời Prague để đi Schemnitz, thành phố mỏ cổ nhất của Slovaquie. Ông đang dạy ở Académie des Mines et des Fôrets thì cách mạng bùng nổ và lay động đế chế Áo. Tình hình ở Slovaquie trở nên nguy hiểm và ông lánh mình về Vienne, ở đây ông tìm lại được việc làm.
CHƯA ĐƯỢC 3 NĂM VINH QUANG.
Vào năm 1850, sau cùng ông trở thành giám đốc của Viện Vật Lý mới, được thành lập để đào tạo các giáo sư. Ông được bầu vào Viện hàn lâm khoa học và được bổ nhiệm làm giáo sư vật lý thí nghiệm ở Université Impériale et Royale de Vienne. Ông là người đầu tiên chiếm giữ ghế giáo sư rất mới này, được tạo ra một cách đặc biệt bởi hoàng đế Franz Josef I. Trong số những ứng viên đối địch vào chức vụ này có một tu sĩ dòng thánh augustin 20 tuổi, Johann Gregor Mendel, người cha tương lai của di truyền học hiện đại…Bị bệnh lao dày vò, một lần nữa Doppler buộc phải nghỉ ngơi. Ông hy vọng phục hồi lại sức khỏe nhờ khí hậu địa trung hải và chọn Venise làm nơi dưỡng bệnh. Nhưng tình trạng sức khỏe của ông nặng dần và ông qua đời trong đôi tay của vợ mình vào lúc chưa tròn 50 tuổi. Doppler được chôn cất ở Venise, nơi Đô thị dành cho ông một ngôi mộ danh dự (“ tombe d’honneur ”) trong khi những nhà vật lý thành phố gắn một tấm bảng tưởng niệm trên một hàng cột của nghĩa địa.
(LE GENERALISTE 5/5/2011)

4/ VIÊM GAN C : CÀNG NGÀY CÀNG CÓ NHIỀU TRƯỜNG HỢP CHỮA LÀNH.
Tỷ lệ chữa lành của viêm gan C sẽ chuyển từ 50% lên hơn 70% nhờ sự xuất hiện trên thị trường của một lớp thuốc mới, tiep theo sau nhiều thử nghiệm lâm sàng, được công bố trong tạp chí The New England Journal of Medicine. “ Đó là một cuộc cách mạng, GS Patrick Marcellin, chuyên gia Pháp về các bệnh viêm gan thuộc bệnh viện Beaujon, Paris, người đã tham gia vào những thử nghiệm này, đã xác nhận như vậy. Nhờ thêm vào điều trị hiện nay một chất ức chế mới của một enzyme virus, tỷ lệ chữa lành gần như tăng gấp đôi đối với một nhiễm trùng gây nên bởi virus de génotype I, thường gặp nhất và khó điều trị nhất. Và thời gian điều trị sụt từ 48 tuần xuống còn 24 tuần. ” Ở Pháp, số các bệnh nhân được điều trị đối với virus de génotype I như thế có thể tăng gấp ba, chuyển rừ 5000 vào năm 2010 lên 15.000 vào năm 2012. Những người này thường nhất đã được truyền máu trước năm 1991 hay, đối với phần lớn những nhiễm trùng mới, là những người sử dụng chất ma túy bằng đường tĩnh mạch.
Điều trị hiện nay gồm có tiêm interféron alpha, một thuốc kháng virus, và dùng thuốc viên ribavirine, một thuốc kháng virus tổng hợp. Những chất ức chế được hiệu chính bởi công nghiệp dược phẩm nhằm vào một enzyme của virus thuộc génotype I, protéase, giờ đây làm thay đổi cục diện. Được gọi là bocéprevir hay télaprevir, chúng rất có hiệu quả để ngăn cản sự tăng sinh của virus và cho phép cơ thể loại bỏ tất cả các tế bào bị nhiễm trùng. Được dùng dưới dạng thuốc viên mỗi 8 giờ, chúng có những tác dụng phụ giới hạn. “ Các chất ức chế này sẽ có trên thị trường ở Pháp trước cuối năm nay, Patrick Marcellin đã xác nhận như vậy, và sẽ cho phép chúng ta điều trị lại ngay cả những bệnh nhân mà điều trị hiện nay thất bại. Và đó mới chỉ là thuốc tiền phong, những dược phẩm khác còn mạnh hơn đang được thử nghiệm.” Một tin rất tốt lành đối với 230.000 bệnh nhân mãn tính ở Pháp, trong đó 43% không biết mình bị nhiễm trùng, và đối với một căn bệnh là nguyên nhân thứ ba gây ung thư gan sau nghiện rượu và chứng béo phì.
(SCIENCES ET AVENIR 5/2011)

5/ SPINA-BIFIDA : NGOẠI KHOA THAI NHI LÀM GIẢM CÁC PHẾ TẬT
Theo các chuyên gia đó là một bước tiến thật sự đối với ngoại khoa thai nhi (chirurgie fœtale). Một can thiệp phẫu thuật trong tử cung cải thiện rõ rệt những cơ may của các trẻ em bị spina-bifida có một cuộc sống bình thường hơn, một công trình nghiên cứu rộng rãi của Hoa Kỳ, được công bố trên site Internet của New England Journal of Medicine, đã kết luận như vậy. BS Scott Adzick (đại học Pennsylvanie) và các đồng nghiệp, cũng vừa trình bày những kết quả của họ tại một hội nghị, tuy nhiên nhấn mạnh rằng ngoại khoa thai nhi không phải là vô hại đối với bà mẹ và trẻ em. Nó đặc biệt làm gia tăng nguy cơ sinh non.
Từ 30 năm nay, nhiều phẫu thuật ngoại khoa thai nhi đã được thực hiện, để điều chỉnh những dị dạng nghiêm trọng hay để lấy đi các khối u gây chết người. Vài phẫu thuật đã mang lại thành công, nhưng nhiều phẫu thuật khác đã thất bại. Bởi vì các thầy thuốc ngoại khoa đụng phải một trở ngại tầm cỡ : chỉ việc mổ tử cung để tiếp cận với thai nhi thường nhất làm phát khởi chuyển dạ trong những ngày sau phẫu thuật. Công trình nghiên cứu, được công bố hôm nay, đã được bắt đầu vào năm 2003, và mục tiêu của nó là đưa vào khảo sát 200 trường hợp myéloméningocèle, dạng thông thường nhất của spina-bifida. Dị dạng này của cột sống không gây chết người nhưng gây nên những phế tật nặng : bại liệt các chi dưới, són tiểu, hydrocéphalie (áp suất quá mức trong dịch não tủy).
Kết cục, phân tích đã được thực hiện trên 158 trường hợp, được phát hiện trước 26 tuần thai nghén. 50% trong số các trường hợp đã được mổ trong tử cung, và những trường hợp khác được mổ lúc sinh. Sau một năm, chỉ 40% các trẻ em được mổ trong tử cung đã cần một shunt (phẫu thuật để dẫn lưu dịch não tủy), trong khi tỷ lệ này là 82% trong nhóm kia. Những bệnh nhân nhờ được mổ tiền sinh cũng không bị phụ thuộc hơn nhiều lúc bước ở tuổi 30 tháng, so với những trẻ được mổ sau khi sinh (42% so voi 21%).
Mặt trái của chiếc médaille : ngoại khoa thai nhi được liên kết với một nguy cơ sinh non lớn hơn (trung bình sinh lúc 34 tuần), với các hậu quả hô hấp. Những biến chứng nơi người mẹ (đặc biệt do vết sẹo tử cung) cũng đã được ghi nhận. “ Nhiều chuyên gia tỏ ra bi quan về tính khả thi và tính chất có căn cứ của công trình nghiên cứu này, nhưng chúng tôi đã ngạc nhiên một cách dễ chịu về những kết quả này, GS Yves Ville (bệnh viện Necker, Paris) đã bình luận như vậy. Chúng tôi đang suy nghĩ đề nghị phẫu thuật tiền sinh này ở bệnh viện Necker. ” GS Michel Zerah, thầy thuốc ngoại thần kinh trong cùng bệnh viện, xác nhận rằng kíp mổ đã sẵn sàng về mặt kỹ thuật. “ Chúng tôi cũng sẽ bắt đầu tập luyện lên cừu với kỹ thuật nội soi, làm giảm những nguy cơ sinh non ”, ông đã xác nhận như vậy.
Hiện nay, ở Pháp, mỗi năm vài chục trẻ em được mổ myéloméningocèle lúc sinh ra đời. Phần lớn các phụ nữ có thai bị dị dạng bẩm sinh này chọn lựa gián đoạn thai nghén. “ Không nên quên rằng điều trị tốt nhất là phòng ngừa : việc cho bổ sung acide folique phòng ngừa hơn 70% các trường hợp spina-bifida ”, GS Zerah đã nhấn mạnh như vậy.
(LE FIGARO 11/2/2011)

6/ CUỘC SỐNG VĂN PHÒNG LÀM TĂNG GẤP ĐÔI UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
Thoạt nhìn, đó là một tin chẳng lấy gi làm vui đối với hàng triệu người buộc phải sống cuộc sống văn phòng hay cuộc sống nghề nghiệp khác ít di động. Được theo đuổi trong hơn 10 năm, một nghề không hoạt động (métier sédentaire) nhân gấp hai nguy cơ bị vài loại ung thư của đại tràng, theo một công trình nghiên cứu của Úc vừa mới được công bố trong American Journal of Epidemiology. Và điều này xảy ra, dầu cho mức độ hoạt động vật lý trong những lúc rổi rãnh là gì, các tác giả của bài báo đặc biệt nhấn mạnh như vậy. Thật vậy, những tác dụng phòng ngừa của một hoạt động vật lý đều đặn đối với vài loại ung thư, trong đó có những ung thư đại tràng và trực tràng, đã được xác lập bởi nhiều công trình nghiên cứu. Là những ung thư trong số những ung thư thường xảy ra nhất (37.000 trường hợp mới mỗi năm ở Pháp, trong đó 17.000 trường hợp tử vong), các ung thư đại-trực tràng càng ngày càng được hiểu rõ hơn. Chứng béo phì và sự quá dư thừa calorie, đặc biệt là một chế độ ăn uống quá nhiều thịt và charcuterie, và sự nhàn rổi không hoạt động (sédentarité) được xem là những yếu tố nguy cơ. Ngược lại, một sự tiêu thụ đều đặn rau xanh có vẻ là một yếu tố bảo vệ, cũng như hoạt động vật lý.
Để xác nhận vai trò của hoạt động vật lý, Terry Boyle và các đồng nghiệp của đại học miền tây Úc đã nghiên cứu một nhóm 918 các bệnh nhân tuổi từ 40 đến 79, bị ung thư đại trực tràng. Họ đã so sánh những người này với một ngàn người chứng, về lối sống của họ, về cường độ hoạt động vật lý, giải trí và nghề nghiệp. Kết quả : những người đã làm việc hơn 10 năm một cách nhàn rỗi không hoạt động có một nguy cơ gần như gấp đôi bị ung thư phần xa (nửa thứ hai) của đại tràng (côlon distal), và được nhân lên 1,5 lần đối với ung thư của trực tràng. Sự tăng quá mức nguy cơ này cũng được quan sát ngay cả nơi những người chơi thể thao một cách đều đặn. Ngược lại, sự xuất hiện một ung thư của đại tràng gần (côlon proximal) (phần đầu tiên sau ruột non) không bị ảnh hưởng bởi loại nghề nghiệp.
Theo các tác giả, những liên hệ nguy hiểm giữ sự nhàn rỗi không hoạt động và các ung thư đại trực tràng có thể là do nhiều cơ chế. Việc thiếu hoạt động vật lý làm dễ sự tăng cao của đường huyết và làm giảm tính nhạy cảm đối với insuline, hai yếu tố làm dễ quá trình sinh ung thư của các tế bào đại tràng. Những yếu tố viêm gây nên bởi sự nhàn rỗi cũng có thể đóng một vai trò.
Vấn đề là còn phải biết những hậu quả thực hành nào có thể được rút ra từ công trình nghiên cứu này. “ Điểm quan trọng của công trình này, đó là phân biệt hoạt động vật lý nghề nghiệp và không nghề nghiệp, GS Robert Benamouzig, trưởng khoa tiêu hóa của bệnh viện Avicenne (Bobigny) đã nhấn mạnh như thế. Nhưng những kết quả, thu được với những dụng cụ đo lường ít chính xác, phải được xác nhận để có thể đáng tin được.”
Hiện nay, dầu nghề nghiệp thuộc loại nào đi nữa, những tính chất của hoạt động vật lý đều đặn không bị xét lại. Và công trình nghiên cứu này của Úc xác nhận sự hữu ích trong việc chống lại su nhàn rỗi không hoạt động ở văn phòng ; bằng cách đứng dậy thường xuyên để bước vài bước, thở sâu vào, uống nước… những động tác nhỏ cũng giúp chống lại stress.
(LE FIGARO 21/4/2011)

7/ TRISOMIE 21 SẼ ĐƯỢC PHÁT HIỆN BẰNG XÉT NGHIỆM MÁU
Mặc dầu chọc dò màng ối qua bụng (amniocentèse) (nhằm lấy dịch ối khi thai nghén) có hiệu quả, nhưng thủ thuật này gây nên sẩy thai trong 1% các trường hợp. Chẳng bao lâu nữa chọc dò màng ối sẽ có thể được thay thế bằng một xét nghiệm máu đơn giản của người mẹ. Được hiệu chính bởi các nhóm nghiên cứu người Hy lạp và Anh, trắc nghiệm mới này nhằm phân lập và phân tích ADN của thai nhi lưu thông trong máu của người mẹ, và đặc biệt hơn, những vùng có những biến đổi nhẹ về hóa học nơi thai nhi. Công trình nghiên cứu này đã cho phép phân biệt không sai lầm 14 trường hợp trisomie 21, và 26 thai nhi bình thường. Bây giờ công trình nghiên cứu lại được thực hiện trên một số lượng lớn hơn các phụ nữ có thai.
(SCIENCE ET VIE 5/2011)

8/ TA BIẾT ĐIỀU TRỊ BỆNH THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG DO LỚN TUỔI ?
Florian Sennlaub
Directeur de recherche
Bệnh thoái hóa điểm vàng do lớn tuổi (DMLA) gây bệnh cho một số càng ngày càng nhiều người. Ở Pháp, đó là nguyen nhân chủ yếu của mất thị giác trung tâm không hồi phục được. DMLA được đặc trưng bởi một sự thoái hóa dần dần vùng trung ương của võng mạc. Vùng này cho phép thị giác chi tiết, đặc biệt cần thiết để đọc và để nhận biết những khuôn mặt.
Ở giai đoạn đầu, thường nhất là không có triệu chứng, bệnh nhân có thể thấy những biến dạng của các đường thẳng (métamorphopsies) và sự xuất hiện của những vết mờ. Ở đáy mắt lúc đó xuất hiện những chất đọng màu trăng trắng (drusen) dưới vùng trung tâm của võng mạc. Ở giai đoạn này, bệnh không kèm theo thoái hóa, nghĩa là một sự đánh mất những tế bào thần kinh. Khi đó ta nói là bệnh hoàng điểm do lớn tuổi (MLA hay DMLA sớm). DMLA thường nhất xuất hiện sau 50 tuổi, và nhất là bắt đầu từ tuổi 65. Bệnh ảnh hưởng lên 20% những người trên hơn 75 tuổi. Trong một nửa các trường hợp, DMLA vẫn ổn định, không gây nên trở ngại thị giác, hay ngay cả có thể biến mất một cách ngẫu nhiên. Ngược lại 50% các bệnh nhân sẽ phát triển một dạng tiến triển của bệnh bởi sự đánh mất các quang thụ thể (photorécepteur). Có hai dạng DMLA : dạng teo (forme atrophique), tiến triển từ từ và hiếm khi gây nên mất thị giác đột ngột, và dạng ẩm ướt (forme humide), cũng được gọi là xuất tiết (forme exudative) hay tân huyết quản (néovasculaire). Dạng ẩm ướt được đặc trưng bởi một sự gia tăng bất thường các huyết quản, khi đó để đi qua các chất dịch và máu vào trong vùng trung tâm của võng mạc. Dạng ẩm uớt có thể tiến triển nhanh chóng và ảnh hưởng thị giác trong vài tuần hay vài ngày. DMLA nói chung không ảnh hưởng thị giác ngoại biên hay bên và gây nên một sự suy yếu quan trọng các khả năng thị giác mà không dẫn đến sự mù lòa hoàn toàn.
Từ vài năm này, điều trị DMLA dạng ẩm ướt đã được cải thiện một cách ngoạn mục với sự hiệu chính một liệu pháp chống tăng sinh huyết quản (thérapie antiangiogénique), đã nhờ đến những loại thuốc ngăn cản sự tạo thành các tân huyết quản. Điều trị này nhằm vô hiệu hóa tác dụng của yếu tố tăng trưởng của nội mô huyết quản (VEGF : vascular endothelial growth factor), có can dự trong sự điều hòa tính thẩm thấu và sự tăng trưởng của các huyết quản. Những loại thuốc này có khả năng làm ổn định căn bệnh, và trong vài trường hợp cải thiện thị lực, đối với hầu hết các bệnh nhân bị dạng ẩm ướt khi thuốc được cho kịp thời. Trong trường hợp những người bị DMLA dạng teo, các ông trình nghiên cứu đã cho thấy rằng sự tiêu thụ các vitamine E và C, beta-carotène và kẽm làm chậm lại, nhưng bất hạnh thay, không làm ngưng sự tiến triển của căn bệnh.
Hiện nay không có điều trị phòng ngừa nói riêng. Tuy nhiên một sự phát hiện sớm bởi thầy thuốc nhãn khoa cho phép nhận diện những người bị bệnh DMLA và thông tin cho họ về việc làm giảm các yếu tố nguy cơ (chứng nghiện thuốc lá, sự tăng thể trọng). Ngoài ra, chẩn đoán DMLA dạng ẩm ướt ở giai đoạn sớm là thiết yếu đê điều trị sự tân sinh huyết quản (néovascularisation) trước khi gây nên biến chứng.
CUỘC CHIẾN VỚI CÁC ĐẠI THỰC BÀO
Thách thức của những năm đến trong nghiên cứu về bệnh DLMA là tìm ra một điều trị đối với dạng teo (forme atrophinique) và những chất ức chế sự tăng sinh mạch máu khác đối với những bệnh nhân không đáp ứng hay không đáp ứng nữa với những điều trị VEGF. Những nghiên cứu được tiến hành trong phòng thí nghiệm của chúng tôi đã phát hiện một sự tích tụ của những tế bào viêm (những đại thực bào) trong lớp các quang thụ thể (couche des photorécepteurs) của võng mạc, đi trước sự tăng sinh huyết quản và sự thoái hóa neurone. Dường như một tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) nơi các bệnh nhân ngăn cản sự loại bỏ các đại thực bào tích tụ với thời gian này. Là nguồn gốc của những yếu tố độc đối với thần kinh và sinh huyết quản (facteurs neurotoxique et angiogénique), những đại thực bào này có thể làm dễ sự tăng sinh huyết quản và sự thoái hóa neurone.
Khái niệm đổi mới này đã cho phép chúng ta phát triển những liệu pháp dược liệu mới nhằm ngăn cản sự tích tụ của các đại thực bào trong lớp các quang thụ thể (couche des photorécepteurs) của võng mạc. Ở động vật, những điều trị này có khả năng ngăn cản sự thoái hóa của các quang thụ thể cũng như sự tăng sinh huyết quản (neovascularisation). Trong một tương lai tương đối gần chúng có thể là một điều trị mới đối với những dạng teo và ướt của bệnh DMLA.
(LE FIGARO 1/4/2011)

9/ THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG DO LỚN TUỔI (DMLA) : TÁC DỤNG BẢO VỆ CỦA OMEGA 3 ĐƯỢC XÁC NHẬN.
Một công trình nghiên cứu mới đây của Hoa Kỳ chứng minh tác dụng phóng ngừa của các axit béo. GS José-Alain Sahel, Directeur scientifique de l’institut de la vision, bình luận về những kết quả này.
Hỏi: Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của chứng bệnh thoái biến đáng sợ này, DMLA.
GS José-Alain Sahel: Đó là một căn bệnh liên kết với sự lão hóa, ảnh hưởng lên khoảng 1,5 triệu người ở Pháp, như thế thật là nhiều ! Bệnh lý là do sự tích tụ của các mảnh vỡ tế bào ở trung tâm võng mạc, hoàng điểm (macula). Vùng hoàng điểm này cho phép đọc, nhận biết các gương mặt, thực hiện những công việc hàng ngày… nhưng thị giác ngoại biên (vision périphérique) không bị ảnh hưởng.
Hỏi: Những yếu tố làm dễ là gì ?
GS José-Alain Sahel: Người ta đã có thể tìm ra hai cách giải thích : 1. Một nguồn gốc di truyền chiếm 60% các trường hợp. 2. Những yếu tố môi trường, trong đó có lẽ việc tiếp xúc quá mức với ánh sáng mặt trời mà không được bảo vệ, chứng nghiện thuốc lá, một chế độ ăn uống mất quân bình với một sự tiêu thụ quá mức mỡ không bảo hòa (graisses insaturées).
Hỏi: Có những dang khác nhau của chứng bệnh thoái hóa này không và những dạng nào khó điều trị nhất ?
GS José-Alain Sahel: Thực vậy có 3 dạng. Dạng ẩm uớt (forme humide) (20%) được đặc trưng bởi các tân huyết quản tăng sinh dưới võng mạc. Trong dạng khô (forme sèche) (20%), các huyết quản teo lại. Dạng sớm (forme précoce) tương ứng với giai đoạn đầu tiên hết của bệnh. Ở giai đoạn này, điều quan trọng là ngăn cản sự tiến triển bằng một chiến lược phòng ngừa. Đối với dạng ẩm uớt, từ nay ta có một điều trị hiệu quả với một loại thuốc (một kháng thể chống lại VEGF-Vascular Endothelial Growth Factor) phong bế sự tăng sinh của các tân huyết quản.
Hỏi: Protocole của công trình nghiên cứu mới đây của Hoa Kỳ là gì ?
GS José-Alain Sahel: Nhóm của GS William Christen, Boston, từ năm 1993 đã theo dõi 38.022 phụ nữ. Những phụ nữ này đã chấp nhận điền một cách đều đặn một bảng câu hỏi về những thói quen ăn uống của họ. Đồng thời một theo dõi nhãn khoa đã được thực hiện ở tất cả các bệnh nhân này, để tìm kiếm bệnh DLMA.
Hỏi: Những kết quả là gì ?
GS José-Alain Sahel: Ta đã biết rằng vài chất bổ sung thức ăn (vitamine C và E) làm chậm lại 20% tiến triển của những dạng sớm, nhưng những kết quả của công trình nghiên cứu mới nhất này đã cho thấy rằng những tác dụng bảo vệ khác có thể có được bằng chế độ ăn uống. Thí dụ các phụ nữ vốn đã tiêu thụ một thức ăn giàu oméga 3 (nhất là cá) hay đã dùng đều đặn các chất bổ sung của các axit béo này (DHA và EPA) có nguy cơ mắc phải DMLA được giảm khoảng 40% ! Công trình nghiên cứu này cung cấp cho chúng ta những chỉ định rất hữu ích để phòng ngừa nhưng dạng sớm của bệnh.
Hỏi: Với tất cả những kết quả này, những lời khuyên phòng ngừa của ông là gì ?
GS José-Alain Sahel: Bắt đầu từ năm 50 tuổi, tất cả cần phải được thực hiện một thăm khám đáy mắt. Nếu người ta phát hiện DMLA ở giai đoạn đầu, khi căn bệnh chưa được xếp loại thành dạng ẩm uớt hay khô : 1. Bảo vệ chống lại ánh sáng mặt trời và nhân tạo với các kính lọc các tia tử ngoại. 2. Hủy bỏ tất cả các độc chất và thuốc lá. 3. Theo dõi hệ tim mạch của mình. 4. Ưu tiên cá trong chế độ ăn uống và sử dụng những chất bổ sung oméga 3, đặc biệt là vitamine E và C.
Hỏi: Những hy vọng lớn nhất trong phòng ngừa và chữa lành bệnh DMLA ?
GS José-Alain Sahel: Để ngăn cản các mảnh vỡ tích tụ ở hoàng điểm, nhiều thử nghiệm đang được tiến hành với những loại thuốc khác nhau, trong đó có những chất tương cận với vitamine A. Những kết quả đầu tiên trên một trăm bệnh nhân đã tỏ ra đáng phấn khởi. Hướng của liệu pháp gène (thérapie génique) dường như cũng rất hứa hẹn : ta hy vọng có thể “ sửa chữa ” những bất thường của các gène có liên hệ. Những phương thức khác có liên quan đến ghép các tế bào gốc và những điều trị chống viêm.
(PARIS MATCH 27/4-2/5/2011)

10/ ALZHEIMER : MỘT KHÁM PHÁ GÂY NGẠC NHIÊN
Sự tích tụ chung quanh các neurone, dưới dạng những chất lắng thành mảng của protéine de beta-amyloide, được xem như cơ chế chủ yếu của bệnh Alzheimer. Theo những kết quả của một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, protéine này không được sản xuất bởi não bộ mà bởi gan, và sau đó được vận chuyển đến não bộ. Một nhóm nghiên cứu của Scripps Research Institute, được chỉ đạo bởi GS Gregor Sutcliffe, nghiên cứu về ba loại gène được xem là chịu trách nhiệm về sự tích tụ của beta-amyloide. Để tìm kiếm những tương quan giữa các gène này và những gène khác, họ đã khảo sát trên các con chuột hơn 25.000 gène khác. Và thật ngạc nhiên ! Gène được gọi là của “ présénile 2 ”, cần thiết cho sự tống hợp của beta-amyloide, mà ta tin là ở trong não bộ, chỉ được biểu hiện trong gan. Hoạt tính của gène này càng cao, thì càng có nhiều các mảng xung quanh các neurone của chuột. Nhưng nếu ta điều trị động vật bằng imatinib một thứ thuốc có ưu điểm phong bế sự sản xuất préséline 2 bởi gan, thì nồng độ của beta-amyloide sụt giảm một cách ngoạn mục. Những thứ nghiệm đang được dự kiến nơi người.
(PARIS MATCH 27/4-2/5/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(9/5/2011)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s