Thời sự y học số 224 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ BÁO ĐỘNG : HƠN 3000 TRƯỜNG HỢP BỆNH SỞI ĐƯỢC KHAI BÁO VÀO THÁNG 3 Ở PHÁP.
Tất cả những người sinh sau năm 1980 phải nhận hai liều vaccin.
EPIDEMIE. 5000 bệnh nhân năm 2010, 3750 vào tháng giêng và tháng hai 2011 và đã có hơn 3000 vào tháng ba…So các trường hợp bệnh sởi tiếp tục gia tăng ở Pháp, theo những đánh giá mới nhất của Viện theo dõi y tế (InVS : Institut de veille sanitaire). Những con số phải được nhân lên hai, thậm chí ba lần : bệnh sởi, theo lý thuyết phải được khai báo bắt buộc, nhưng phần lớn không được thông báo đầy đủ. Các ổ bệnh trong gia đình, trong các nhà trẻ, trường học và ngay cả trong bệnh viện và các nhà hộ sinh ; dịch bệnh lan tràn khắp nước, “ nhưng bùng nổ chủ yếu ở miền Nam ”, BS Denise Antona, thuộc Khoa bệnh truyền nhiễm của InVS đã xác nhận như vậy. “ Điều làm cho chúng tôi lo lắng nhất, nhà dịch tễ học đã nói tiếp như vậy, đó là cái giá nặng nề phải trả đối với các trẻ dưới 1 tuổi. Trong lứa tuổi này, số các trường hợp mới đã được nhân lên gấp 4 giữa năm 2009 và 2010. Ta thấy tái xuất hiện những trường hợp sởi trẻ sơ sinh (rougeole néonatale). Và trong những năm đến, nguy cơ sẽ là quan sát thấy một lần nữa những biến chứng hiếm rất nghiêm trọng, như viêm toàn bộ não (panencéphalite). Bệnh viêm não này, khởi phát giữa hai và 10 năm sau bệnh sởi, đã biến mất ở Pháp. Giới hữu trách y tế từ nay khuyến nghị tái tiêm chủng đối với vài lứa tuổi.


AI PHẢI ĐƯỢC TIÊM CHỦNG ?
Lịch trình tiêm chủng mới dự kiến rằng tất cả những người sinh từ năm 1980 phải nhận hai liều vaccin ROR (bệnh sởi, bệnh quai bị, rubéole). Theo nguyên tắc, mũi tiêm đầu tiên xảy ra khoảng 12 tháng (9 tháng đối với những trẻ sống tập thể) và mũi thứ hai sau đo nhưng phải tôn trọng một khoảng cách tối thiểu 1 tháng. “ Một liều không đủ ”, BS Antona đã nhấn mạnh như vậy, đồng thời nhắc lại rằng phần lớn các bệnh sởi (80 đến 85%) xảy ra ở những người không được tiêm chủng, nhưng rằng 13 đến 15% đã nhận một mũi tiêm. Theo nhà dịch tễ, ngược lại, sự tiêm chủng không có lợi ích nơi những người trên 30 tuổi. “ Bệnh sởi đã được đưa vào trong lịch tiêm chủng vào năm 1983, vậy phần lớn các cá thể sinh ra trước 1980 đã mắc phải bệnh sởi và được bảo vệ. ”
Trong khung cảnh hiện nay của dịch bệnh, cũng có thể tiêm chủng, trong 3 tháng sau khi tiếp xúc, những người không được bảo vệ (hay đã chỉ nhận một liều) bị tiếp xúc với một trường hợp bệnh sởi. Vaccin monovalent (chỉ chống lại bệnh sởi) có thể được đề nghị cho các nhũ nhi ngay 6 tháng tuổi. Bắt đầu từ 9 tháng, chính vaccin trivalent (ROR) được sử dụng. Giới hữu trách y tế cũng chủ trương một sự tiêm chủng tốt hơn cho những người điều trị điều dưỡng. Theo một điều tra được thực hiện năm 2009, ở các sinh viên (thầy thuốc, nữ hộ sinh, y tá), cứ hai người đã có một người được tiêm chủng hoàn toàn. Thế mà, vào năm 2010, khoảng 60 trường hợp bệnh sởi mắc phải trong bệnh viện (rougeole nosocomiale) đã được ghi nhận, trong đó 4/5 các trường hợp xảy ra ở những người săn sóc bệnh nhân.

TẠI SAO BỆNH SỞI TÁI XUẤT HIỆN ?
“ Sự lan tràn của virus là hậu quả của một mức độ tiêm chủng bảo vệ không đủ ở Pháp ”, InVS đã đánh giá như vậy. Vào năm 2005, một kế hoạch chính phủ đã được khởi động, nhằm triệt trừ bệnh sởi (và bệnh rubéole bẩm sinh) vào năm 2010. Nhưng mục tiêu để đạt được một tỷ lệ bảo vệ tiêm chủng 95% đối với một liều ở tuổi 24 tháng, đã không bao giờ đạt được. Và sự tích lũy dần dần những người khong được tiêm chủng đã đưa đến những ổ bệnh gồm những cá nhân nhạy cảm với virus. Hãy nhắc lại rằng bệnh sởi được ghi vào lịch tiêm chủng vào năm 1983, và nguyên tắc của một tiêm chủng nhắc lại vào năm 1996. Vào đầu những năm 1980, số các trường hợp mỗi năm được ước tính giữa 400.000 và 700.000.
NHỮNG TRIỆU CHỨNG LÀ GÌ ?
Sau 10 đến 12 ngày ủ bệnh, bệnh sởi bắt đầu với sốt, với mệt mỏi và những dấu hiệu như ho, viêm mũi, viêm kết mạc. Rồi nổi ban kéo dài 5 đến 6 ngày. Ban sởi có thể được báo trước bởi nổi ban trong miệng (dấu hiệu Koplick) rất gợi ý. Bệnh nhân có thể gây nhiễm 5 ngày trước đến 5 ngày sau khi bắt đầu nổi ban.“ Các thầy thuốc thuộc thế hệ của tôi nhận biết ngay bệnh sởi khi nhìn cú đầu, nhưng nhiều thầy thuốc trẻ đã không bao giờ thấy bệnh nhân bị sởi ”, GS François Bricaire (thầy thuốc chuyên bệnh nhiễm trùng ở bệnh viện Pitié-Salpetrière) đã nêu lên như vậy. Ông nhắc lại rằng cùng với bệnh thủy đậu, bệnh sởi là một trong những bệnh gây nhiễm nhất. Các biến chứng phổi và hiếm hơn, những biến chứng thần kinh, ảnh hưởng chủ yếu những trẻ dưới 1 năm và những người trên 20 tuổi. Từ năm 2010, ít nhất 17 trường hợp viêm não đã được khai báo với InVS, và 3 trường hợp tử vong trong đó 2 do viêm phổi.

NGƯỜI THẦY THUỐC PHẢI LÀM GÌ ?
Theo một thông tư của Tổng giám đốc y tế năm 2009, phải khai báo trường hợp bị sởi và thực hiện một điều tra nhỏ những người trong gia đình. Như thế, những người “ tiếp xúc ” không được bảo vệ có thể được tiêm chủng trong một thời hạn 3 ngày. Trong vài trường hợp (thí dụ các phụ nữ có thai không được tiêm chủng), một mũi tiêm kháng thể có thể được đề nghị.
(LE FIGARO 18/4/2011)

2/ LÀM SAO QUẢN LÝ SỐT Ở TRẺ EM
Những loại thuốc như paracétamol không nên cho một cách hệ thống.
PEDIATRIE. Sốt của trẻ em là một trong những động cơ thường gặp nhất cua thăm khám nhi đồng và là một nguyên nhân gây lo lắng đối với nhiều bố mẹ. Theo các chuyên gia, đánh giá rằng triệu chứng sốt (được định nghĩa bởi một nhiệt độ trên 38 độ) quá thường được điều trị bởi các loại thuốc, đó là điều sai trái. Để chống lại “ phobie de la fièvre ” và giúp các thầy thuốc giáo dục gia đình, Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ vừa công bố những khuyến nghị mới.
“ Thay vì duy trì một nhiệt độ bình thường, mục tiêu chủ yếu là giúp đứa bé cảm thấy thoải mái hơn ”, Viện hàn lâm Nhi khoa đã nhấn mạnh như thế đồng thời nhắc nhở rằng sốt là một phản ứng sinh lý có thể giúp chống lại một nhiễm trùng. Rõ ràng là các thuốc hạ nhiệt không cần được cho một cách hệ thống. Mặt khác, đánh thức một đứa trẻ dậy để cho thuốc hạ nhiệt là điều vô ích, Viện hàn lâm nhi khoa đã viết như vậy. Thật vậy, không có một loại thuốc nào trong số những thuốc hạ nhiệt này đã chứng tỏ tính hiệu quả để ngăn ngừa biến chứng chính của sốt nơi những trẻ dưới 5 tuổi, những cơn co giật do sốt (convulsions fébriles).
NGUỒN GỐC CỦA SỐT THƯỜNG LÀ DO VIRUS.
Những lời khuyến nghị này cũng giống với những lời khuyến nghị của Pháp từ năm 2005 (xem http://www.afssaps.sante.fr ). “ Sốt là một triệu chứng, điều thiết yếu là phải hiểu tại sao, nhưng việc hủy bỏ nó một cách hệ thống là một nguyên tắc xấu ”, GS Alain Chantepie, chủ tịch của Hiệp hội nhi khoa Pháp đã đảm bảo như vậy. “ Ta không điều trị một nhiệt độ mà là điều trị một đứa bé. Lý do duy nhất để hạ sốt, đó là vì sự thoải mái của đứa bé ”, GS Jean-Marc Treluyer, thầy thuốc nhi khoa và dược sĩ thuộc đại học Paris-Descartes đã xác nhận như vậy.
Trong thực tiễn, nguồn gốc của sốt là do nhiễm trùng trong 9 trường hợp trên mười và thuờng là virus. Một ý kiến y khoa là cần thiết khi sốt vẫn không giải thích được. Phải thăm khám thầy thuốc một cách nhanh chóng trước sự hiện diện của những dấu hiệu làm nghi ngờ một bệnh lý nghiêm trọng (ví dụ viêm màng não) hay nếu như sốt vẫn cao, khoảng 39 độ, trong hơn 24 giờ mặc dầu được xử trí đúng đắn. Những phản xạ tốt là không mặc quần áo cho đứa bé, cho nó uống nước thường xuyên nếu có thể được và làm thông khí căn phòng. “ Đắp vải ướt trên đầu có thể hữu ích, bởi vì chúng làm dễ sự mất nhiệt cơ thể, GS Chantepie đã xác nhận như vậy. Ngược lại, việc cho trẻ tắm mát (bains frais) như thường làm không còn hợp thời nữa. Bởi vì điều đó làm cho bệnh nhi khó chịu và tính hiệu quả không kéo dài. ”
Còn về các loại thuốc, không có ngưỡng khi nào phải cần đến nó. 3 loại thuốc có dưới nhiều dạng : paracétamol, anti-inflammatoires loại ibuprofène và aspirine. Thường nhất, đó là paracétamol được cho đầu tiên. Aspirine không còn được sử dụng bao nhiêu do nguy cơ có một tác dụng phụ hiếm nhưng nghiêm trọng, hội chứng Reye.
“ Nguyên tắc là sử dụng mội loại thuốc duy nhất. Những điều trị dùng thuốc thay phiên nhau (traitements en alternance) không được khuyến nghị ”, GS Treluyer đã xác nhận như vậy. Ông khuyên sử dụng ưu tiên những dạng thuốc với một hệ thống liều lượng/trọng lượng tính bằng kilo, dễ sử dụng hơn.
(LE FIGARO 28/3/2011)

3/ NGÀY NAY KHI NÀO TA CÓ THỂ THAY MỘT TRÁI TIM SUY ?
Professeur Daniel Loisance
Chirurgien cardiaque

Việc mổ thay tim cấp cứu đôi khi nên làm, khi xảy ra một tai biến cấp tính đột ngột và gây tử vong nhanh chóng như trường hợp một nhồi máu cơ tim lan rộng, hay mổ thay tim theo hoạch định, nơi một bệnh nhân suy tim mãn tính, không còn đáp ứng nữa với điều trị thuốc và không còn có thể thực hiện một điều trị ngoại khoa nào khác.
Ghép tim (transplantation cardiaque) cho phép, với cái giá của một nguy cơ có thể chấp nhận, trở lại một cuộc sống kéo dài có chất lượng tốt và tiếp tục một hoạt động bình thường : tỷ lệ những bệnh nhân sống lúc 10 năm là 54%, so sánh với 38% cách nay 30 năm. Tuy nhiên cần phải có một tim ghép (greffon) có chất lượng tốt, điều này càng ngày càng hiếm hoi. Thí dụ, ở Pháp, vào năm 2009, trên 785 bệnh nhân đang chờ đợi, chỉ có 359 đã có thể được ghép, so với gần 900 cách nay 20 năm, với 9% tử vong vì thiếu tim ghép có sẵn kịp thời.
Đối với những bệnh nhân này, câu trả lời tốt nhất là tim cơ học (cœur mécanique) hay, đúng hơn, là sự hỗ trợ cơ học tuần hoàn (assistance mécanique de la circulation). Nhiều hệ thống cho phép tránh một cái chết tức thời, lợi được thời gian trước khi ghép. Đăng ký theo theo diện “ siêu cấp cứu ” (en superurgence) có thể mang lại cho các bệnh nhân này một vài ưu tiên nào đó. Những tình trạng thiếu hụt các tim ghép vẫn tồn tại, và phẫu thuật ghép tim không phải luôn luôn được mong muốn nơi một bệnh nhân bị suy tim nặng cũng như sau lứa tuổi giới hạn (âge limite) của ghép tim, điều này hôm nay càng ngày càng thường xảy ra .. Sau cùng, ghép tim không thích hợp với những loại bệnh khác, như ung thư, bệnh thoái hóa, nhiễm trùng mãn tính, cũng như ở một bệnh nhân nghi không chấp hành hay từ chối ngừng hút thuốc.
Tim nhân tạo lý tưởng, than ôi, hiện nay không hiện hữu, nhưng ngày nay không còn ai tin điều đó nữa. Thật xa rồi cái thời, ngay cả trong những nước mà các bệnh nhân ít có cơ hội để được tiếp cận với phẫu thuật tim, các chương trình tim nhân tạo nuôi hy vọng của các nhà nghiên cứu và các nhà công nghiệp ! Ghép tim nhân tạo đầu tiên nơi người của Jarvik, được thực hiện năm 1993 bởi BS Barney Clarke ở Salt Lake City, đã không thành công. Kích thước quá mức của tim nhân tạo được ghép, quả không thoải mái, nguy cơ đè ép các cơ quan lân cận, nguy cơ nhiễm trùng, chết sớm đã làm cáo chung chương trình nghiên cứu ở Hoa Kỳ.. Ngày nay, sau mối thất vọng của một niềm hy vọng mới với AbioCor vào đầu những năm 2000, hiếm có những công ty nào trên thế giới, như Carmat ở Pháp, theo đuổi con đường nghiên cứu này.
Thật vậy, sự hỗ trợ tâm thất bị bệnh nhờ một máy bơm, (những tim nhân tạo hỗ trợ tâm thất bán phần : demi-cœur artificiel d’assistance ventriculaire), ít gây ít khó khăn về kỹ thuật hơn và cũng tỏ ra hiệu quả bằng và ít phức tạp hơn. Sự hỗ trợ tuần hoàn được đảm bảo bởi một máy bơm nhỏ xíu được đặt vào trong ngực, nối với tim được để lại tại chỗ, thay thế và đảm nhận chức năng tâm thất trái bị suy. Sự cân bằng tuần hoàn mới này đặt tâm thất trái trong tình trạng nghỉ ngơi hoàn toàn và trong thời kỳ mà tuần hoàn toàn thân được đảm bảo bởi bơm hỗ trợ (pompe d’assistance), tim có khả năng phục hồi. Can thiệp thành công đầu tiên thuộc loại này đã xảy ra ở bệnh viện Henri-Mondor (Créteil) vào tháng ba 1996. Từ đó, công nghệ học đã tiến triển, và những kết quả sau một hay hai năm tương đương với những kết quả của ghép tim. Từ một chục năm nay, hơn 10.000 bệnh nhân đã nhận những máy bơm hỗ trợ này trên khắp thế giới, và với một tỷ lệ sống sót hơn 5 năm không có biến chứng quan trọng. Kỹ thuật này, ít xâm nhập, có thể được sử dụng ở tất cả mọi lứa tuổi của đời sống, nhưng xác suất thành công càng quan trọng khi việc thiết đặt được thực hiện không chậm quá, trong điều kiện tốt đẹp, theo kế hoạch, trước khi suy tim đã quá tiến triển, và làm biến đổi chức năng tâm thất phải. Chờ đợi lúc thuận lợi đã trở nên mối ưu tư chủ yếu của thầy thuốc chuyên khoa tim, ở những bệnh nhân mà tương lai sau vài tháng, mới còn cách đây không lâu, bị ảnh hưởng.
Còn hơn thế nữa : các thầy thuốc rất đổi ngạc nhiên đã quan sát thấy rằng tâm thất trái, nhờ khỏi phải tiếp tục chức năng cơ học với bơm nhân tạo, đôi khi có thể phục hồi và ngay cả cơ tim có thể được sửa chữa hoàn toàn. Vậy suy tim không còn nhất thiết dẫn đến tử vong nữa. Như xương hay gan, cơ tim có một tiềm năng tái sinh tự nhiên, nhưng cần biết rằng hiện tượng này có thể thay đổi rất nhiều tùy theo bệnh nhân, và cũng tùy theo các nguyên nhân của suy tim.
Vậy từ nay phải tìm kiếm cơ chế nhằm đẩy nhanh hay khuếch đại quá trình sữa chữa tự nhiên này của tim. Như thế nền y khoa tái tạo mới (médecine régénérative) thêm vào hỗ trợ cơ học (assistance mécanique) những loại thuốc “ kích thích ” (medicaments dopants) để làm dễ sự phát triển của các sợi cơ nhằm làm gia tăng những cơ may phục hồi một trái tim vốn bị phá hủy bởi căn bệnh và cho phép tiếp tục một chức năng bình thường. Ngày mai, với sự xuất hiện của những liệu pháp tế bào và di truyền, những khó khăn do ghép tim hay những nỗi đắng cay của tim nhân tạo sẽ đi vào trong sự lãng quên của lịch sử.
(LE FIGARO 18/4/2011)

4/ ALPHA- CAROTENE : NHỮNG TÍNH CHẤT PHÒNG NGỪA CỦA CAROTTE.
15.318 người Mỹ hơn 20 tuổi đã được theo dõi trung bình trong 14 năm, trong khung cảnh của một công trình nghiên cứu quốc gia được gọi là “ Third National Health an Nutrition Examination ”, bởi một nhóm các nhà dịch tễ học Californie (BS Liu, đại học Californie). Sau khi đã xét đến tất cả những yếu tố vệ sinh đời sống (thuốc men, thuốc lá, rượu, hoạt động vật lý, chế độ ăn uống), nguoi ta nhan thay rang nồng độ trong máu của alpha-carotène (chất được chứa trong carotte) tương ứng với tỷ lệ tử vong toàn bộ và với tỷ lệ bệnh tật quan trọng(nhất là các ung thư và các bệnh tim-mạch). Nồng độ của alpha-carotène càng mạnh, thì các nguy cơ càng giảm. Sự kiện đáng lưu ý : chính alpha-carotène chứ không phải là bêta-carotène, vốn thường được nghiên cứu, mới là tác nhân có lợi chủ yếu. Tác dụng chống oxy hóa của alpha-carotène in vitro mười lần mạnh hơn tác dụng của bêta-carotène. Nó cũng ức chế 10 lần lớn hơn sự tăng sinh tế bào của các neuroblastome, nguồn của phần lớn của các ung thư não, cũng như những tế bào gan và da có tiềm năng ác tính.
(PARIS MATCH 14/4 – 20/4/2011)

5/ KHUẨN CHÍ RUỘT (FLORE INTESTINALE) CŨNG ĐƯỢC PHÂN CHIA THÀNH LOẠI NHƯ NHÓM MÁU.
Một công trình nghiên cứu châu Âu tiết lộ rằng khuẩn chí ruột (flore intestinale) của chúng ta được phân chia thành 3 loại theo cách phân loại của các nhóm máu.
GENETIQUE. Bạn thuộc Bacteroides, Prevotella hay Ruminococcus ? Cũng như nhóm máu (A,B,O hay AB), chẳng bao lâu nua mỗi cá thể sẽ được gán một nhóm ruột (groupe intestinal) hay entérotype. Hôm qua, một nhóm các nhà nghiên cứu châu Âu đã tiết lộ rằng 100.000 tỷ vi khuẩn định cư trong ruột cua chúng ta được phân chia thành 3 loại lớn mà các nhà nghiên cứu đặt tên theo họ các vi khuẩn được đại diện trong mỗi 3 loại này.
Cuộc khám phá lý thú toàn bộ các gène (hay métagénome) của khuẩn chí ruột này, được thực hiện một năm sau séquençage, bởi cùng kíp nghiên cứu, mở ra những triển vọng điều trị to lớn nhất là để chống lại bệnh đái đường, chứng béo phì hay những bệnh mãn tính của ruột, như bệnh Crohn. Sự hiện hữu của 3 entérotype này, mà nguồn gốc chưa được biết rõ, cũng có thể giải thích tại sao những tác dụng của vài loại thuốc hay thức ăn thay đổi theo từng cá thể ”, Jeroen Raes, nhà nghiên cứu thuộc đại học Bruxelles (VIB) và là một trong những tác giả chính của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy.
Công trình nghiên cứu này, được thực hiện từ những mẫu nghiệm ruột lấy trên 39 người đang sống ở châu Âu, châu Mỹ và ở Nhật Bản, đã cho thấy rằng sự phân chia thành ba nhóm độc lập đối với tuổi, tình trạng sức khỏe (tăng thể trọng, các bệnh viêm) và nguồn gốc địa lý của các người được khảo sát.
Để hiểu rõ tầm quan trọng của những công trình này, phải ghi nhớ rằng “ génome của khuẩn chí ruột của chúng ta gồm có 3,3 triệu gène, hoặc 150 lần nhiều hơn trong ADN của những tế bào của chúng ta ”, Stanislav-Dusko Ehrlich, nhà nghiên cứu thuộc Viện quốc gia nghiên cứu nông học, đã nhấn mạnh như vậy. Theo ông, “ đó là một terra incognita mới mà ta gần như không biết gì hết cách nay 3 năm ”, khi dự án đã được khởi động.
Vô số những vi khuẩn này, giúp chúng ta hấp thụ các vitamine và vài chất dinh dưỡng đóng một vai trò cơ bản bởi vì chúng nằm ở interface (mặt phân chia) giữa các thức ăn mà chúng ta ăn vào và cơ thể của chúng ta. “ Nếu ta muốn hiểu rằng nguồn gốc của bệnh đái đường hay của chứng béo phì nhưng chỉ nhìn ADN của những tế bào của chúng ta và để một bên métagénome vi khuẩn, thì ta sẽ đi sai đường ”, M.Ehrlich đã nói tiếp như vậy. Thế mà những công trình nghiên cứu được tiến hành năm 2006 trên chuột đã rõ ràng cho thấy một liên hệ giữa microbiome và sự tăng thể trọng hay bệnh béo phì.
Việc khám phá 3 entérotype người này sẽ cho phép so sánh những người nằm trong trong những loại này và do đó cho phép nhận diện nhanh hơn những vi khuẩn có liên hệ trong sự lên cân cũng như những điều trị hay những chế độ dinh dưỡng thích hợp nhất.
Theo M-Ehrlich, các nghiên cứu được tiến hành trong khung cảnh MetaHIT cho thấy khả năng hướng “ về một nền y khoa cá thể hóa ” có khả năng cải thiện tiên lượng của những bệnh mãn tính (bệnh đái đường, dị ứng, bệnh Crohn), đối với những bệnh này rất khó điều trị mỗi khi bệnh đã phát ra, bằng cách xác định những người có nguy cơ. Khả năng can thiệp trực tiếp lên quần thể vi khuẩn trong trường hợp rối loạn hệ sinh thái ruột bằng cách kích thích những vi khuẩn “ tốt ” và bằng cách hủy những vi khuẩn “ xấu ” cũng được dự kiến.
Giai đoạn sắp đến nhằm xếp loại sâu hơn microbiome người bằng cách khảo sát một nhóm nhiều người hơn, ít nhất 1000 người. “ Có lẽ chúng ta sẽ tìm thấy những nhóm mới, cũng gần giống như những yếu tố rhésus của máu ”, nhà nghiên cứu đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 21/4/2011)

6/ MUCOVISCIDOSE : MỘT BƯỚC TIẾN ?
Đó là bệnh di truyền thông thường nhất trong dân chúng châu Âu. Muco viscidose gây nên một sự sản xuất quá mức của một niêm dịch dày và nhớt trong các cơ quan khác nhau, nhất là ở phổi, chịu trách nhiệm phần lớn các biến chứng (các rối loạn hô hấp, nhiễm trùng, tử vong). Bệnh lý này là do sự bất thường của một gène, CFTR, chế tạo một protéine khiếm khuyết, là nguồn gốc của sự sản xuất quá thừa niêm dịch. Một công ty sinh-công nghệ học của Hoa Kỳ (Vertex Pharmaceuticals) đã hiệu chính một sản phẩm, VX-770, “ sửa chữa ” sự loạn năng của protéine. Trong một công trình nghiên cứu trên 161 bệnh nhân bị mucoviscidose, tác dụng của loại thuốc này (so sánh với tác dụng của một placebo) đã cho phép, nơi những bệnh nhân được điều trị, sự phục hồi 20% chức năng phổi trong một năm, một sự lên cân và giảm một nửa các nhiễm trùng. Những kết quả chưa bao giờ có được trước đây. Những điều trị mới này chỉ có thể sử dụng đối với một trong các dạng của bệnh. Như thế các nhà nghiên cứu phát triển một sản phẩm mà họ hy vọng có hiệu quả trong gần 75% các trường hợp.
(PARIS MATCH 21/4- 26/4/2011)

7/ NHỮNG GIỜ LÀM PHỤ TRỘI LÀM TĂNG NGUY CƠ ĐỘNG MẠCH VÀNH.
CARDIOLOGIE. Trong đánh giá nguy cơ động mạch vành của một bệnh nhân, độ dài của thời gian làm việc làm gia tăng nhẹ, nhưng một cách đáng kể, điểm số Framingham.
Căn cứ trên một nhóm khoảng 7.000 viên chức người Anh (2.109 phụ nữ và 4.986 đàn ông, tuổi từ 39 đến 62, Whitehall Study), không bị bệnh động mạch vành lúc bắt đầu nghiên cứu, Mika Kivimaki và các đồng nghiệp, đã tập hợp các thông tin, giữa năm 1991 và 1993, để xác định những điểm số nguy cơ Framingham của những người này, cũng như số giờ làm việc trong một ngày điển hình. Mục tiêu là để biết, việc có những dữ kiện liên quan đến những giờ làm việc kéo dài có cải thiện khả năng tiên đoán nguy cơ bị bệnh động mạch vành trong một nhóm các nhân viên làm việc có nguy cơ thấp hay không.
Cuộc theo dõi đã kéo dài khoảng 12 năm (cho đến năm 2004), trong đó các nhà nghiên cứu đã ghi nhận những trường hợp tử vong do động mạch vành và những trường hợp nhồi máu cơ tim không gây tử vong. Trong thời kỳ này, 193 người tham dự đã bị một bệnh động mạch vành.
Kết quả cho thấy rằng những người làm việc 11 giờ hay nhiều hơn mỗi ngày có một nguy cơ gia tăng 67% đối với bệnh động mạch vành, so với những người mà thời gian làm việc bình thường (7 hay 8 giờ mỗi ngày).
(LE JOURNAL DU MEDECIN 19/4/2011)

8/ TIẾP XÚC LỰC PHÓNG XẠ : NHỮNG NGUY CƠ THẬT SỰ.
Nguyên tử làm sợ hãi. Tai họa Fukushima làm nổi lên nhiều câu hỏi. GS Patrick Bourguet, giáo sư y khoa nguyên tử của trung tâm Eugène-Marquis (Rennes) trả lời các câu hỏi được nêu ra.
Hỏi: Ông có thể định nghĩa cho chúng tôi một cách đơn giản lực phóng xạ (radioactivité ) là gì ?
GS Patrick Bourguet: Đó là những bức xạ (rayonnements) phát ra từ các thể phóng xạ (corps radioactifs). Có hai họ. 1. Họ của các nguyên tố phóng xạ (éléments radioactifs) tự nhiên (như uranium được sử dụng như là chất đốt trong các lò nguyên tử). 2. Họ của các thể phóng xạ được sản xuất trong các réacteur (thí dụ iode 131 được sử dụng trong liệu pháp tia X để điều trị các ung thư tuyến giáp) hay trong các cyclotron (như fluor 18 để chẩn đoán các ung thư). Phần lớn các nguyên tố phóng xạ tự nhiên (radioélément naturel) phát ra những phần tử lớn đang trong quá trình phân rã. Độc tính của chúng tùy thuộc vào năng lượng và liều lượng toàn thể. Trái lại những nguyên tố nhân tạo phát ra hoặc là những phần tử nhỏ, các điện tử như các điện tử được sử dụng trong các accélérateur linéaire trong ung thư học, hoặc những tia X hay gamma.
Hỏi: Sự khác nhau giữa một phát xạ (irradiation) và một ô nhiễm (contamination).
GS Patrick Bourguet: Phát xạ (irradiation) tương ứng với sự tiếp xúc ngoài với một nguồn phóng xạ (source radioactive). Một thí dụ : một buổi liệu pháp tia X (radiothérapie) trong đó rọi tia X lên một khối u với một liều mạnh. Sự lây nhiễm (contamination) được thực hiện từ một nguyên tố phóng xạ (élément radioactif) đi vào trong cơ thể, hoặc do hít hoặc do nuốt vào. Hiện nay ở Nhật bản, các công nhân làm việc trong các nhà máy nguyên tử chịu một phát xạ xung quanh rất mạnh.
Hỏi: Làm sao đo lực phóng xạ (radioactivité) ?
GS Patrick Bourguet: Lực phóng xạ (radioactivité) được đo bằng becquerel : 1 becquerel tương ứng với một sự tan rã mỗi giây (hoặc một hoạt tính rất thấp). Tác dụng của cac bức xạ lên cơ thể được đó bằng millisievert. Tất cả chúng ta đều chịu những bức xạ tự nhiên (radiations naturelles) : đất đai có tính phóng xạ. Tiếp xúc với môi trường chung quanh của chúng ta, chúng ta nhận 2 đến 3 millisieverts mỗi năm.
Hỏi: Trong những tình huống nào của đời sống hàng ngày những liều lực phóng xạ này gia tăng ?
GS Patrick Bourguet: Những liều này tăng cao với vài thăm khám y khoa sử dụng những tia X (radiographie, scanner, những thăm khám của y khoa nguyên tử). Thí dụ lúc thực hiện scanner, bệnh nhân nhận 8 đến 10 millisieverts, nghĩa là 3 lần liều tự nhiên mỗi năm.
Hỏi: Bắt đầu từ liều lượng nào, sự phát xạ bắt đầu có hại ?
GS Patrick Bourguet: Ta ước tính rằng ngưỡng hàng năm không được vượt quá 100 đến 150 millisieverts. Trên mức này, ta sợ một sự gia tăng nguy cơ bị ung thư. Trong trường hợp tai họa nguyên tử, khi một người nhận 1000 millisieverts, bắt đầu có những dấu hiệu lâm sàng như mửa. Trên 4.500 millisieverts, một nửa những người bị phát xạ chết trong tháng sau đó. Thời gian phát xạ càng dài và liều lượng càng quan trọng, thì nguy hiểm càng lớn. Chính vì thế, trong các trung tâm nguyên tử, các công nhân được cho di tản càng nhanh càng tốt. Một đám mây phóng xạ (nuage de radioactivité) có thể lan rộng nhờ được gió đẩy đi, nhưng nó chỉ chứa những phần tử nhẹ của iode 131 và césium 137.
Hỏi: Tại sao, trong trường hợp tai nạn nguyên tử, ta khuyên dân chúng vùng chung quanh dùng iode ?
GS Patrick Bourguet: Iode mà ta nhận trong tự nhiên gắn vào tuyến giáp (để chế tạo các hormone). Trong trường hợp một đám mây phóng xạ đi qua, tuyến giáp có nguy cơ bị phát xạ, do đó để phòng ngừa, cần làm bảo hòa tuyến giáp bằng cách sử dụng những viên iode để bảo vệ nó. Chỉ nên tiêu thụ trong trường hợp nguy cơ thật sự và trong một thời gian ngắn.
Hỏi: Theo ý kiến của ông, những nhà máy nguyên tử của Pháp có an toàn hơn của Nhật không ?
GS Patrick Bourguet: Tai nạn của nhà máy nguyên tử Fukushima là hậu quả của sóng thần (raz de marée) đặc biệt và không phải là hậu quả của một trận động đất. Các trung tâm nguyên tử của Pháp được bao quanh bởi hai enceinte kín và không chỉ được bao phủ bởi một couvercle như ở Tchernobyl. Trong đất nước của chúng ta, những nhà máy nguyên tử không có cùng những nguy cơ.
(PARIS MATCH 21/4 – 26/4/2011)

9/ MỘT NGÂN HÀNG TẾ BÀO MÁU Ở FUKUSHIMA ?
Lo ngại về những hậu quả y khoa của một sự tiếp xúc với các bức xạ nguyên tử, các chuyên gia, công bố một bài báo trong tạp chí y khoa The Lancet, khuyên các kỹ thuật viên của trung tâm nguyên tử Fukushima cho trích lấy những tế bào gốc, ngay bây giờ, để được điều trị tốt hơn sau khi b ị tiếp xúc với các bức xạ.
Giải thích : một lực phóng xa (radioactivité) tăng cao gây nên sự phá hủy của các tế bào máu được chế tạo bởi tủy xương, đến độ có thể gây nên tử vong trong vài giờ. Biến chứng quan trọng này chỉ có thể được điều trị bằng cách ghép những tế bào gốc máu, giống như điều trị các bệnh máu, nhất là bệnh cầu (leucémie).
Để có được những tế bào gốc này từ một người cho cần phải có thời gian, và tính bất tương hợp tiềm tàng giữa người cho và người nhận có thể dẫn đến những biến chứng. Các chuyên gia, phát biểu trong tờ báo The Lancet, đề nghị các kỹ thuật viên của nhà máy nguyên tử hay để dành những tế bào gốc của chính mình để dùng khi cần đến.
Phương cách thực hiện : các kỹ thuật viên nhà máy sẽ nhận những mũi tiêm nhằm lấy những tế bào gốc của tủy xương và những tế bào này sẽ được đưa vào trở lại trong máu. Người ta trích lấy những tế bào gốc của máu lấy ở một cánh tay, trước khi tiêm trở lại vào trong cánh tay kia, một thao tác đòi hỏi nhiều ngày. Mỗi kỹ thuật viên bị một mức độ bức xạ quan trọng nào đó có thể được truyền với chính những tế bào của mình.
VÔ ÍCH NẾU Ở TRÊN VÀI LIỀU LƯỢNG.
Những đề nghị này không được sự nhất trí của cộng đồng khoa học : vài người thấy đó là một gánh nặng vật lý và tinh thần thêm nữa cho các công nhân. Đối với bác sĩ Nelson Chao cua Université de Duke, chuyên viên về ghép cơ quan, ý tưởng này là hợp lý đối với những kỹ thuật viên đi vào trong vùng bị phát xạ mạnh, nhưng sự ghép các tế bào gốc phải được giới hạn cho những người chịu một mức độ phát xạ được xác định rõ. “ Dưới ngưỡng này sự chữa lành xảy ra trong mọi trường hợp. Trong khi đó trên ngưỡng này, những thiệt hại, nhất là ở ruột và phổi, là không đảo ngược được. Và khi đó ghép các tế bào gốc sẽ chẳng thay đổi gì cả, ông đã kết luận như vậy. ”
(LE SOIR 20/4/2011)

10/ SCANNER HAY IRM, PHẢI CHĂNG ĐỀU GIỐNG NHAU ?
Professeur Patrice Taourel
Chef de service imagerie médicale
CHU Montpellier-Hopital Lapeyronie
Scanner và IRM có một số điểm chung quan trọng. Chúng cũng có những khác nhau cơ bản, là nguồn gốc của các chỉ định đặc hiệu tùy theo tuổi của bệnh nhân, tùy vùng cơ thể học được thăm dò hay bệnh lý được tìm kiếm.
Trong cả hai trường hợp, bệnh nhân được đặt trong một tunnel, nhưng tunnel của IRM dài hơn nhiều, có thể gây nên khó chịu nơi những bệnh nhân bị chứng claustrophobie. Thời gian thăm khám đối với IRM (khoảng 30 phút) dài hơn so với scanner (khoảng 5 đến 10 phút). Trong hai trường hợp, các hình ảnh có được dưới dạng các thiết diện (coupe), từ đó nhiều tái tạo (reconstruction) có thể được thực hiện theo hai hoặc ba chiều không gian. Hai phương thức theo cùng diễn biến : một temps d’acquisition, được thực hiện bởi người thao tác, theo những protocole rất nghiêm chỉnh được phát họa bởi Société française de radiologie, rồi một temps de travail de l’image : đo mật độ (densité) đối với scanner hay tín hiệu (signal) đối với IRM, tái tạo nhiều bình diện (reconstruction multiplan), định lượng các chỗ hep (sténoses)…và nhất là một temps d’interprétation) được thực hiện bởi thầy thuốc quang tuyến tìm kiếm và phân tích những bất thường và hội nhập chúng trong một bối cảnh lâm sàng để đề nghị một hay nhiều giả thuyết chẩn đoán : scanner và IRM thường cần sử dụng những chất cản quang được tiêm bằng đường tĩnh mạch và cho phép, thí dụ, chẩn đoán một chỗ hẹp hay một chỗ tắc của một mạch máu hay phát hiện và xác định đặc điểm tốt hơn các khối u.
Những dữ kiện thu được khi làm scanner cũng như khi làm IRM là những dữ kiện số (données numériques), có thể truyền và cất giữ. Như thế điều này cho phép so sánh những thăm dò, (là điều cần thiết), cho phép thấy lại những hình ảnh dưới ánh sáng của những yếu tố mới hay cho phép nhận được ý kiến của một thầy thuốc quang tuyến chuyên khoa trong một lãnh vực rất đặc hiệu nào đó. Sau cùng, scanner và IRM là những trang thiết bị chụp hình ảnh mà sự thiết đặt thường cần được cho phép bởi chính quyền, điều này giải thích những thời hạn lấy hẹn quá dài để có thể thực hiện một điều trị tối ưu ; điều này đặc biệt đúng đối với IRM, mà số lượng hiện có được đánh giá theo số máy đối với 100.000 dân, xếp loại chúng ta vào trong những học trò rất kém ở Châu Âu, với một tỷ lệ 8,7IRM trên mỗi triệu dân số với 15,6 đối với mức trung bình châu Âu.
Mặc dầu có nhiều điểm chung giữa scan và IRM, nhưng nguyên tắc vật lý của chúng hoàn toàn khác nhau : scanner dựa vào một sự hấp thụ đặc hiệu các tia X bởi các mô khác nhau. Nó gây nên một sự tiếp xúc với các tia X và chỉ định dùng nó phải được cân nhắc, đặc biệt là đối với những phụ nữ có thai, các trẻ em và những người trẻ tuổi. Scanner có một résolution không gian rất tốt và cho phép những cấu trúc inframillimétriques.
NHỮNG THĂM KHÁM PHỤ.
Còn IRM thì dựa vào tính chất của vài hạt nhân nguyên tử, phát ra những tín hiệu có thể phát hiện được khi chúng được đặt trong một từ trường và chịu một tần số phóng xạ (radiofréquence) đặc biệt, có khả năng làm cho chúng vang âm. Thăm dò bằng IRM bị cấm chỉ đối với những người mang một pacemaker (stimulateur cardiaque) hay những vật là trong nhãn cầu. IRM có một résolutiuon en contraste rất tốt và cho phép phân biệt tốt hơn các mô có những thành phần khác nhau, vậy đó là chụp hình ảnh được sử dụng ưu tiên trong thăm dò các nhu mô, nhất là não bộ, nhưng cũng của gan, tuyến vú hay tiền liệt tuyến. IRM không những là một phương thức cơ thể học mà còn là một phương thức chức năng của các cơ quan khác nhau và do đó cho phép chẩn đoán một tình trạng thiếu máu cục bộ một cách rất sớm, cách duy nhất khiến cơ thể chữa lành nó. Ngược lại, IRM cần xunh quang bệnh nhân một dụng cụ (ống truyền, máy thở) không nhạy cảm với từ trường. Điều này giải thích tại sao scanner được ưa thích hơn IRM trong vài tình huống : cấp cứu, ngoại trừ chụp hình ảnh não bộ, nơi những bệnh nhân hồi sức hay trong việc thực hiện những động tác được hướng dẫn bởi chụp hình ảnh, dầu là để chẩn đoán hay điều trị.
Scanner hay IRM chắc chắn là những phương thức chụp hình ảnh đã hưởng được những tiến bộ lớn nhất về công nghệ học trong 10 năm qua, với sự phát triển của những lãnh vực áp dụng mới như chụp hình ảnh của tim và các động mạch vành và, thay vì đối lập chúng với nhau, phải xem chúng như là bổ sung cho nhau : chụp hình ảnh hợp nhất (imagerie de fusion) chứng tỏ điều đó, hứa hẹn phát triển mạnh, bởi vì phương pháp này sẽ cho phép hợp nhất những dữ kiện từ scanner và IRM.
(LE FIGARO 28/2/2011)


BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(2/5/2011)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s