Thời sự y học số 222 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ NHỮNG NHIỄM TRÙNG Ở BỆNH VIỆN : MỘT THÁCH THỨC THƯỜNG TRỰC.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

THẾ GIỚI. Trên quy mô thế giới, OMS (2008) đánh giá rằng 1,4 triệu người bị vào bất cứ lúc nào một nhiễm trùng mắc phải ở bệnh viện. Những tỷ lệ lưu hành tối đa được báo cáo ở vùng phía đông Địa trung hải (11,8%), ở Đông Nam Á (10%), châu Âu nằm ở mức trung bình dưới 7,7%, và Pháp 5,34 %. Những đơn vị bị ảnh hưởng nhất là những đơn vị điều trị tăng cường (unité de soins intensifs), các khoa ngoại cấp cứu, ngoại chỉnh hình. Phí tốn gây nên bởi những nhiễm trùng này cao, đặc biệt là bởi vì chúng kéo dài thời gian nhập viện.
PHÁP. Ở Pháp, các nhiễm trùng bệnh viện ảnh hưởng lên 700.00 người và giết chết 4000 người mỗi năm.
NGHIÊN CỨU. Dự án I-Bird, được khởi xướng ở Hopital de Berck năm 2009, ghi qua trung gian một boitier électronique tất cả những tiếp xúc giữa các bệnh nhân và nhân viên điều trị để xác định những cách truyền các vi khuẩn đa đề kháng.

5 khuyến nghị để ngăn ngừa những nhiễm trùng.
1. Rửa tay : Rửa tay có hệ thống. 5 phút để rửa ngoại khoa (lavage chirurgical). Mang gant, mỗi đôi gant cho mỗi lần điều trị.
2. Y cụ : Sử dụng một dụng cụ chỉ dùng một lần. Nếu không, loại bỏ các vị khuẩn bằng rửa, khử trùng và tiệt trùng y dụng cụ.
3. Vệ sinh bệnh nhân : vệ sinh tốt thân thể. Đối với mỗi bệnh nhân nhập viện, tắm sát khuẩn (douche antiseptique), cạo lông vùng mổ.
4. Quần áo nhân viên điều trị. Mang mặt nạ để tránh nguy cơ nhiễm trùng bằng đường khí. Mang gương bảo vệ. Áo choàng ( blouse), surblouse được thay mỗi ngày. Giày dép đặc biệt.
5. Thông khí phòng ốc. Đổi mới không khí các phòng bệnh viện, lọc khí, tạo áp suất dư (surpression) ở vài phòng.

Tỷ lệ các nhiễm trùng bệnh viện (infections nosocomiales) thoái lui nhờ sự huy động không nghỉ.
ANTISEPSIE. “ Các nhiễm trùng bệnh viện đang thoái lui ở Pháp, nhờ nhiều biện pháp được thiết đặt trong những năm qua, BS Bruno Coignard, người phụ trách đơn vị các bệnh nhiễm trùng do điều trị và đề kháng kháng sinh, thuộc khoa Bệnh truyền nhiễm của Viện theo dõi y tế (Institut de veille de santé) đã chỉ rõ như vậy. Phải tiếp tục những cố gắng này, nhất là để ngăn ngừa sự xuất hiện của những vi khuẩn đa đề kháng (bactéries multirésistantes). ” Các nhiễm trùng bệnh viện (infection nososcomiale) là những nhiễm trùng mắc phải trong khi lưu lại trong một cơ sở y tế và những nhiễm trùng này không hiện diện cũng như không ở trong tình trạng tiềm phục vào lúc nhập viện bệnh nhân. Ở Pháp những nhiễm trùng này vào bất cứ lúc nào liên quan đến một bệnh nhân nhập viện trên 20 và chịu trách nhiệm khoảng 4000 trường hợp tử vong mỗi năm. Cuộc điều tra sau cùng về tỷ lệ lưu hành ở Pháp, được thực hiện vào năm 2006, cho thấy một sự giảm khoảng 10% những nhiễm trùng bệnh viện từ năm 2001. Từ cuối những năm 1980, giới hữu trách y tế đã thiết lập một tổng thể các biện pháp theo dõi và phòng ngừa cho đại đa số các cơ sở y tế.
CÁC KHÁNG SINH ÍT CÓ TÁC DỤNG BẢO VỆ.
Các vi khuẩn chịu trách nhiệm những nhiễm trùng bệnh viện, thường nhất là những vi khuẩn phát xuất từ chính bệnh nhân, nhưng cũng từ nhân viên y tế, y dụng cụ và những bề mặt chung quanh các bệnh nhân. Những vi khuẩn này phần lớn gây nên những nhiễm trùng đường tiểu (30,3%), những nhiễm trùng của nơi mổ (14,2%) và những bệnh phổi (14%). 3 loại vi khuẩn thường chịu trách nhiệm nhất những nhiễm trùng bệnh viện ở Pháp là Escherichia coli (25%), Staphylococcus aureus (19%) và Pseudomonas aeruginosa (10%), những vi khuẩn này bình thường hiện diện trong cơ thể con người nhưng đôi khi có thể phát khởi những nhiễm trùng. Sự sử dụng thường xuyên các kháng sinh làm dễ sự phát triển những vi khuẩn đề kháng với nhiều kháng sinh. Những vi khuẩn đa đề kháng này khó chống lại hơn và là mối đe dọa chủ yếu đối với tương lai.
Những yếu tố nguy cơ là tuổi tác, giới tính nam, một bệnh nghiêm trọng, sự suy giảm miễn dịch, một tiền sử can thiệp ngoại khoa trong vòng 30 ngày và sự tiếp xúc với những thiết bị xâm nhập (dispositif invasif) như một cathéter huyết quản, một ống thông tiểu hay một nội thông hỗ trợ hô hấp. Đó là ly đó tại sao các nhiễm trùng bệnh viện thường xảy ra hơn trong các khoa hồi sức, là nơi các bệnh nhân bị làm suy yếu bởi căn bệnh và thường chịu loại các động tác xâm nhập này hơn.
Sự xuất hiện của một nhiễm trùng bệnh viện mà không có một yếu tố nguy cơ nào nêu trên chỉ xảy ra đối với 1,25% những bệnh nhân nhập viện. “ Ngay khi ta đưa một dụng cụ lạ vào cơ thể và ta để nó lại càng lâu, ta càng làm gia tăng nguy cơ khiến dụng cụ này bị định cư bởi một vi khuẩn mà sau đó có thể phát sinh một nhiễm trùng ”, GS Jean-Damien Ricard, trưởng khoa hồi sức nội khoa của bệnh viện Louis-Mourier (Paris) và nhà nghiên cứu của Inserm về sinh thái học và tiến triển của các vi sinh vật, đã nói như vậy.
Các nhóm nghiên cứu không ngừng suy nghĩ về những phương cách mới nhằm làm giảm nguy cơ này, đặc biệt là hạn chế thời gian nội thông để thông khí phổi hay thường xuyên khử trùng những lối vào khả dĩ đối với các vi khuẩn.
Vệ sinh các bàn tay vẫn là cơ sở của những biện pháp phòng ngừa, và các dung dịch nước-cồn (solution hydroalcoolique), có tác dụng làm giảm thời gian cần thiết để rửa tay, đã chứng tỏ lợi ích của chúng, đặc biệt trong việc làm giảm các nhiễm trùng gây nên bởi Staphylococcus aureus.“ Chúng tôi đã thiết lập ngay cả những quota gel cần sử dụng, tùy theo số lần lý thuyết rửa tay cần thiết để làm giảm nguy cơ một cách có hiệu quả ”, GS Ricard đã nhấn mạnh như vậy. Đối với vài điều trị, việc sử dụng các gant tay và các áo choàng vứt bỏ ngay sau khi dùng cho phép tránh sự khuếch tán của các vi khuẩn. Khi một nhiễm trùng bệnh viện được phát hiện hay nghi ngờ, ta có thể cách ly bệnh nhân để hạn chế nguy cơ lan truyền cho những bệnh nhân khác, nhất là trong trường hợp một nhiễm trùng bởi vi khuẩn đa đề kháng.
Các bệnh nhân cũng có thể đóng một vai trò trong việc phòng ngừa các nhiễm trùng bệnh viện bằng cách tôn trọng những chỉ thị đặc biệt như đánh răng một cách chăm chú đặc biệt một tuần trước khi can thiệp ngoại khoa, tỉ mỉ trong khi rửa tay sát khuẩn, không đụng các ống thông, các cathéter và các ống dẫn lưu đã được đặt, luôn luôn rửa tay sau khi dùng nhà xí. Họ cũng có thể yêu cầu khách thăm viếng rửa tay trước và sau khi thăm bệnh nhân hay tìm hiểu qua nhân viên, về những biện pháp chống lại những nhiễm trùng bệnh viện được dự kiến trong khoa mà họ được nhận vào.
(LE FIGARO 11/4/2011)

2/ VẤN ĐỀ CỦA CÁC VI KHUẨN ĐA ĐỀ KHÁNG.
“ Chúng ta có những khả năng tác động lên sự phát sinh của các vi khuẩn ruột đa đề kháng (entérobactéries multirésistantes) ”, GS Patrice Nordman, trưởng khoa vi khuẩn, siêu vi trùng, ký sinh trùng thuộc bệnh viện Bicêtre, đã nhấn mạnh như vậy. Thật vậy, sự khuếch tán của những vi khuẩn đề kháng với nhiều loại kháng sinh, trong đó vài vi khuẩn chỉ còn đáp ứng với một hay hai kháng sinh, là một nguy cơ chủ yếu của những nhiễm trùng bệnh viện.
Tuy nhiên, sự đấu tranh chống lại các giống gốc của các tụ cầu khuẩn vàng (staphylocoques dorés) đề kháng với méthicilline đã cho thấy tình hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa : những biện pháp này đã cho phép, giữa năm 2002 và 2006, làm giảm 35% tỷ lệ những giống gốc đề kháng ở Pháp.
Viện theo dõi ý tế đã nêu lên, từ năm 2002, một sự gia tăng số các nhiễm trùng bệnh viện do các vi khuẩn ruột sản sinh bêtalactamase có kháng khuẩn phổ rộng (EBLSE : entérobactéries productrices de bêtalactamases à spectre élargi). Từ nay những nhiễm trùng này đạt đến một tỷ lệ 58,4% những giống gốc tại bệnh viện, tương đương với những tỷ lệ của đại đa số các nước châu Âu khác. Mối lo ngại chủ yếu là thấy những vi khuẩn này phân tán trong dân chúng bởi vì các loài vi khuẩn thuờng chịu trách nhiệm nhất những nhiễm trùng bệnh viện là những vi khuẩn ruột, hiện diện khắp nơi trong môi trường người.
NHỮNG NGUY CƠ BẾ TẮC ĐIỀU TRỊ
Các EBLSE đề kháng với các bêtalactamine, một họ các kháng sinh, trong đó có các dẫn xuất của pénicilline, các céphalosporine, và đôi khi chúng đề kháng ngay cả carbapénème, là những kháng sinh chỉ được sử dụng như là biện pháp cuối cùng. “ Trong trường hợp này, nguy cơ bế tắc điều trị (impasse thérapeutique) là có thật và chúng ta có thể sẽ trở lại một tình huống trước những năm 1940, không có kháng sinh để chống lại những vi khuẩn này ”, GS Nordmann đã chỉ rõ như vậy. Một nguy cơ càng cao khi từ nay đến ít nhất 5 năm nữa không có một lớp kháng sinh điều trị mới nào, niềm hy vọng thật sự duy nhất đối với tương lai.
Tuy nhiên những vi khuẩn đề kháng với carbapénème được mang lại với số lượng rất lớn qua các bệnh nhân được chuyển từ nước ngoài và từ nay những biện pháp nhắm đích (mesures ciblées) được thiết đặt để phát hiện chúng ngay khi nhập viện những bệnh nhân này. Các bệnh nhân mang mầm bệnh hay bị nhiễm trùng như thế có thể được cách ly một cách nhanh chóng truớc khi họ truyền những vi khuẩn này cho những người khác và được điều trị tức thời càng hiệu quả càng tốt. Những biện pháp nhằm hạn chế sự sử dụng các carbapénème cũng được thiết đặt từ 1 tháng tư năm nay.
Thật vậy, điều quan trọng là phải kiểm soát tốt hơn việc sử dụng các kháng sinh, bởi vì, các vi khuẩn càng tiếp xúc với các kháng sinh, thì chúng càng có thể “ học ” cách đề kháng với những kháng sinh này. Bằng cách làm giảm những cơ hội xuất hiện các đề kháng và bằng cách hạn chế sự khuếch tán của các vi khuẩn đa đề kháng, có thể làm giảm tỷ lệ của chúng trong dân số vi khuẩn toàn thể và, về lâu về dài, làm biến mất sự đề kháng của chúng với các kháng sinh. “ Tuy nhiên phải hành động rất nhanh để những biện pháp này mang lại kết quả và để tránh tình trạng trong đó Ấn độ với, ở Bombay, 10% của tất cả các giống gốc colibacille từ nay đa đề kháng ”.
(LE FIGARO 11/4/2011)

3/ TỦY SỐNG : HƯỚNG CỦA CÁC TẾ BÀO GỐC.
Một phòng thí nghiệm ở Hoa kỳ vừa phát động thử nghiệm đầu tiên trên thế giới, sử dụng những tế bào gốc để tái lập những chức năng vận động của những bệnh nhân bị bại liệt. Một thử nghiệm tế bào cũng được dự kiến ở Pháp. Nhưng những hướng khác, ít bị tranh cãi hơn, nhất là liệu pháp gène (thérapie génique), đang được nghiên cứu.
Một ngày nào đó ta sẽ thành công sửa chữa tủy sống để cho phép những người bị bại liệt bước đi trở lại hay không ? Các bệnh nhân và các nhà khoa học tin chắc điều đó, và từ nay chính về phía trung tâm Shepherd phục hồi chức năng và nghiên cứu về những vết thương của tủy sống và não bộ (Hoa Kỳ) mà các đôi mắt đều hướng tới. Thật vậy, vào tháng 10, thử nghiệm đầu tiên trên thế giới sử dụng những tế bào gốc phôi thai (CSE : cellules souches embryonnaires) đã được phát động để làm tái sinh tủy sống bị thương tổn của một bệnh nhân. Trắc nghiệm này, được tiến hành bởi công ty sinh-công nghiệp học Hoa Kỳ Geron Corporation, sử dụng những tế bào GRNOPC1, những tế bào mẹ của những oligodendrocyte phát xuất từ các tế bào gốc phôi thai. Được quảng cáo rầm rộ bởi truyền hình, radio và báo chí quốc tế, chiến dịch gây nên những niềm hy vọng to lớn. Thật vậy, ta hãy nhắc lại rằng tủy sống (moelle épinière), nằm dọc theo suốt chiều dài cột sống (colonne vertébrale), là trung tâm chi phối những cử động và những cảm giác của cơ thể, đồng thời đảm bảo sự dẫn truyền luồng thần kinh giữa cơ thể và não bộ. Hàng tỉ thông tin lưu thông thường trực dọc theo “ xa lộ ” có chiều dài khoảng 50 cm và đường kính 1cm này. Nếu luồng thần kinh bị gián đoạn hoàn toàn hay một phần, xảy ra sau một chấn thương (tai nạn, khối u…), những hậu quả có thể biến thiên từ bại liệt một phần đến bại liệt hoàn toàn (tétraplégie : bại liệt 4 chi). Thế mà hiện nay không có một liệu pháp nào cho phép tái lập những nối kết thần kinh bị thương tổn. Do đó niềm hy vọng to lớn do phương pháp mới này mang lại.
Tuy vậy, có rất ít thông tin cụ thể lọt ra ngoài, vì phòng thí nghiệm Hoa kỳ chủ trương kín đáo, sau khi đã loan báo rầm rộ. Ta chỉ biết rằng bệnh nhân là một người đàn ông tình nguyện, bị một thương tổn ở ngực loại A theo xếp loại của American Spinal Injury Association Impariment Scale, nghĩa là một thương tổn tối đa của tủy sống đã dẫn đến một bại liệt hoàn toàn. Ta cũng biết rằng thương tổn này đã xảy ra chưa được 15 ngày vào lúc bắt đầu trắc nghiệm, bởi vì những thử nghiệm trước đây trên động vật đã cho thấy rằng những mũi tiêm đã không mang lại hiệu quả nào nếu chúng được thực hiện quá chậm. Mặt khác chính những kết quả đáng phấn khởi thu được từ 5 năm qua trên các động vật gặm nhấm đã khiến Geron Corporation quyết định thực hiện thí nghiệm trên người. Thật vậy các nhà nghiên cứu đã cho thấy một sự tái hoạt hóa quá trình hình thành myéline (myélinisation) của các sợi trục của các tế bào thần kinh, nghĩa là một sự tạo thành mới myéline, bao bọc các sợi trục và cho phép sự dẫn truyền thần kinh. Hậu quả : một sự cải thiện của chức năng vận động. Nhưng không phải vì vậy mà các con chuột phát triển các tératome (những khối u hiền hay ác tính, được phát triển từ các tế bào đa năng (cellules pluripotentes), những khối u mà ta luôn luôn sợ xuất hiện trong trường hợp sử dụng những tế bào gốc phôi thai.
Tuy nhiên không có vấn đề kêu vang chiến thắng và gây nên những hy vọng hảo bởi vì thử nghiệm này vẫn trong giai đoạn còn chập chững. Thử nghiệm này hiện tại chỉ được thực hiện trên một bệnh nhân duy nhất, mặc dầu 7 bệnh nhân khác theo dự kiến sẽ được dần dần đưa vào protocole. Và không có một thông báo nào trước 2012 về những kết quả đầu tiên được dự kiến.“ Nhưng nếu những thuật ngữ “ liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire) hay liệu pháp gène (thérapie génique) hay “ những tế bào gốc ” (cellules souches) có một hiệu quả gần như thần diệu lên các bệnh nhân, đó chính là bởi vì hôm nay không có một điều trị tích cực nào đứng trước một chấn thương tủy sống ”, GS Jean Chazal, trưởng khoa ngoại thần kinh thuộc CHU de Clermont-Ferrand đã nhắc lại như vậy.
Vả lại vị giáo sư này cũng đã dự kiến bắt đầu một thử nghiệm liệu pháp tế bào đầu tiên ở Pháp rất được mong chờ nơi những bệnh nhân bại liệt. Thật vậy, ở Pháp, ta ước tính 35.000 số những người bị tật nguyền sau những thương tổn tủy sống. Một con số mỗi năm gia tăng 1000 đến 1500 trường hợp. Liên kết với X Cell-Center, một nhóm các bệnh viện tư của Đức, có căn cứ ở Dusseldorf và Cologne và chuyên về liệu pháp tế bào, nhóm của GS Chazal sẽ sử dụng một protocol khác với protocol của trung tâm Shepherd Hoa Kỳ : những tế bào gốc được tiêm vào trở lại là những tế bào của chính bệnh nhân, phát xuất từ tủy xương của bệnh nhân này. “ Chúng tôi sẽ đưa vào nghiên cứu 120 người tuổi từ 18 đến 50 tuổi và thực hiện một thử nghiệm so sánh giữa những tế bào tương cận của bệnh nhân với một placebo ”, GS Chazal đã xác nhận như vậy. Trong thì đầu, các tế bào sẽ được lấy ở xương chậu bằng sinh thiết, rồi được gởi đi Đức và được chế biến tại chỗ trong một phòng thí nghiệm. Sau đó những tế bào này lại sẽ được chuyển về Pháp và được đưa vào trở lại bằng chọc dò tủy sống. Chúng tôi chưa biết tại sao nhất là như thế nào những tế bào được tiêm trở lại này lại tiến về vùng thương tổn. Nhưng chúng tôi hy vọng chứng minh, bằng cách thực hiện một sự theo dõi bằng chụp hình ảnh được gọi là tracking (IRM de diffusion), rằng những bó sợi thần kinh mới được tạo thành trong vùng thương tổn. Đó là một bước tiến lớn ”, nhà chuyên gia nói tiếp như vậy. Ở đây sự lựa chọn được dành cho những người bị bại liệt từ hơn một năm và dưới 10 năm. Những thời điểm bắt đầu chưa được ấn định. Chúng tôi đã có những giấy phép đầu tiên của Afssaps vào tháng sáu. Không phải là không khó khăn !
Bởi vì những công trình nghiên cứu về những tế bào gốc được quy định rất nghiêm ngặt bởi luật pháp khắp nơi trên thế giới. Chúng ta hãy nhắc lại rằng ở Hoa Kỳ, chỉ những tổ chức tư nhân, như Geron, hiện nay mới có thể dự kiến những nghiên cứu như thế. Và có được như vậy sau một trận chiến tư pháp dài lâu. Thật vậy sự cho phép lần đầu của tổng thống Barack Obama đã bị đình chỉ ngày 23 tháng 8 năm 2010 bởi một chánh án Washington, đã xét rằng điều đó đi ngược lại với luật pháp liên bang. Ở Pháp, theo đạo luật bioéthique năm 2004, việc nghiên cứu về phôi thai vẫn bị cấm chỉ và hoạt động theo một chế độ phá lệ phức tạp. Các nhà nghiên cứu của CHU de Clermont-Ferrand đã phải chịu những chỉ trích kịch liệt, vài người đánh giá thử nghiệm quá sớm. “ Hôm nay, ta không biết gì nhiều về tương lai của những tế bào này, cũng như phản ứng thật sự và độc tính của chúng. Bấy nhiêu lý lẽ khiến ta phải thận trọng ”, GS Marc Tadié, chủ tịch của hội đồng khoa học của Institut pour la recherche pour la moelle épinière et l’encéphale (Imre) đã đánh giá như vậy. “ Tuy vậy thử nghiệm này là phương pháp duy nhất để biết chiến lược này có cơ may mang lại kết quả hay không ”, GS Chazal đã bào chữa như vậy.
Tuy vậy, thử nghiệm còn có nguy cơ bị chậm lại. Thật vậy từ nhiều tháng nay công ty X Cell-Center đối diện với một tình hình khủng hoảng ỏ Đức, tiếp theo sau trường hợp tử vong của một đứa trẻ trong khi thử nghiệm. Đứa trẻ này đã nhận những tế bào gốc, được tiêm trực tiếp vào trong não bộ. “ Những phân tích đầu tiên đã cho thấy rằng nguyên nhân của tử vong không thể quy cho loại những tế bào được sử dụng, mà vào động tác y khoa được lựa chọn, quá nhiều rủi ro ”, GS Chazal đã xác nhận như vậy. Tuy nhiên, cơ quan y tế Đức đã hợp lý khi đã cảnh giác cơ quan y tế Pháp, điều này mang lại hậu quả là sự khởi đầu của thử nghiệm bị đình chỉ lại. Những thí nghiệm khác về tế bào gốc hiện đang được tiến hành hay sắp bắt đầu ở Hoa Kỳ, Trung Quốc hay ở Bồ Đào Nha. Thí dụ Stem-Cells, một công ty Hoa Kỳ ở Palo Alto, đã đệ đơn cuối năm 2010 cho giới hữu trách Thụy Sĩ để được tiến hành những thử nghiệm về tế bào gốc không phải phôi thai. Nhưng vài trong số những công trình này không phải là không tạo ra vấn đề. Thí dụ người ta phàn nàn sự thiếu vắng phương pháp học chính xác, việc theo dõi các bệnh nhân và nhất là những nhóm kiểm tra. “ Hiện nay không có một tài liệu khoa học nào chuẩn y cho những chiến lược này ”, GS Tadié đã tóm tăt như vậy.
Bấy nhiêu những điều không chắc chắn đã khiến cho ICCP (International Campaign for Cures of Spinal Cord njury Paralysis), tập hợp những tổ chức không vụ lợi chuyên trách về những thương tổn tủy sống, xác lập những khuyến nghị cho tất cả những bệnh nhân ước muốn tham gia những thử nghiệm lâm sàng : “ Các nhà khoa học cũng như các bệnh nhân rất muốn dùng con đường tắc. Phần lớn các thử nghiệm lâm sàng được hoạch định tốt và được tiến hành một cách tỉ mỉ. Tuy nhiên một vài thử nghiệm cần phải tránh. Cuốn sách hướng dẫn này, cũng như những tài liệu hoàn chỉnh của ICCP nhằm giúp quý vị nhận biết những thử nghiệm lâm sàng tốt ”. Bởi vì con đường cùa các tế bào gốc không phải là chiến lược duy nhất để sữa chữa tủy sống.
Ở Montpellier, một thử nghiệm về liệu pháp gène trên động vật chẳng bao lâu sẽ bắt đầu. Những công trình phát xưất từ nhóm nghiên cứu Inserm của Alain Privat, từ nhiều năm nay nghiên cứu về chủ đề sự tái sinh của tủy sống. Vào năm 2003 nhóm nghiên cứu này đã là nhóm đầu tiên đã cho thấy nơi chuột rằng những sợi thần kinh có thể được tái sinh. Vào năm 2009, cùng nhóm nghiên cứu này đã quan tâm đến điều mà các nghiên nhà cứu gọi là “ cicatrice gliale ” : nhóm nghiên cứu đã công bố trong tạp chí Plos ONE 3 kết quả của những quan sát về khối những tế bào này, được hình thành trong những ngày sau khi chấn thương, một loại “ tường thành ” không thể nào vượt qua được, ngăn cản mọi sự tái sinh của các sợi trục, và do đó sự trở lại của luồng thần kinh. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng sự xây dựng bức tường này cần hai “ kiến trúc sư ”, nghĩa là hai protéine, GFAP và vimentine. Từ đó nảy ra ý tưởng chõng lại sự tổng hợp chúng và ngăn cản trên thượng nguồn sự tạo thành của cicatrice gliale này. Đối với Marc Tadié, giải pháp cũng có thể từ một phương cách khác, còn phức tạp hơn, phương pháp interface người-máy và những chỉ huy vận động (commande motrice) bằng tư tưởng, qua những puce implantable.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2011)

4/ MỘT TRÁI TIM TRONG MỘT TẾ BÀO GỐC.
Mục tiêu : tái tạo một phần của trái tim bị hoại tử bởi một nhồi máu cơ tim.
Điểm chính yếu :
– Một nhóm nghiên cứu của ULB (Université Libre de Bruxelles) thành công chọn lựa những tế bào gốc sẽ trở thành những tế bào tim mạch.
– Mục tiêu : một ngày nào đó sửa chữa trái tim của những bệnh nhân bị suy yếu sau một tai biến tim.
– Nhưng cũng để trắc nghiệm những loại thuốc tương lai, để kiểm tra rằng chúng không độc hại và có hiệu quả.
Một nhóm các nhà nghiên cứu của Đại học tự do Bruxelles (ULB), được điều khiển bởi BS Cedric Blanpain, nhà nghiên cứu FNRS thuộc Viện nghiên cứu sinh học người và phân tử của ULB (Phân khoa y khoa), hôm nay tiết lộ một kỹ thuật cải tiến cho phép phân biệt, trong số những tế bào gốc hiện có, vài tế bào, tuy hiếm, nhưng có thể biến đổi sau đó thành những tế bào tim hay tim mạch. Công trình nghiên cứu này là một giai đoạn cần thiết trên con đường cải thiện các kỹ thuật tái tạo cơ tim hay hệ huyết quản của nó.
Thật vậy tim được cấu tạo bởi những tế bào cơ tim có nhiệm vụ co để đảm bảo tim đập và những tế bào huyết quản cho phép máu lưu thông. Suốt trong quá trình phát triển của loài người, tất cả các tế bào tim và vài huyết quản tất cả phát xuất từ những tế bào nguyên thủy được gọi là “các tế bào tiền sinh tim mạch ” (progéniteurs cardiovasculaires).
Trong một công trình nghiên cứu được công bố hôm nay trong Journal of Cell Biology, các nhà nghiên cứu cho thấy rằng họ đã có thể phân lập những tế bào tiền sinh tim mạch (progéniteurs cardiovasculaires) này từ những tế bào khác và biệt hóa những tế bào này thành những tế bào tim in vitro và in vivo nơi chuột. “ Để được như thế chúng tôi đã sử dụng những kỹ thuật chọn lọc di truyền mà hiện nay chúng tôi rất nắm vững, bằng cách làm những tế bào được tìm kiếm phát huỳnh quang nhờ tính chất của một protéine được hoạt hóa bởi một gène xác định ”, Cedric Blanpain đã mô tả như vậy.
“ Quả thật là tuyệt vời. Chúng tôi thành công thanh lọc trước những tế bào sẽ sinh ra những tế bào tim. Những tế bào trở thành huynh quang bắt đầu xuất hiện gần như khắp nơi như thể nhiều trái tim nhỏ bắt đầu đập trong hộp Petri, trong khi những tế bào không phát huỳnh quang không sinh ra bất cứ co bóp nào ”, BS Antoine Bondue, tác giả đầu tiên của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy.
Vậy giai đoạn này, cho phép thấy một trái tim chuột thật sự “ mọc trở lại ”, đã có tính chất quyết định, bởi vì nó cho phép có thể phân biệt những tế bào gốc nào sẽ trực tiếp hữu ích cho tim và cho môi trường của nó. Nơi người, để đạt được điều đó, ta sử dụng không phải những tế bào gốc phôi thai, mà là những tế bào gốc đa năng được gây cảm ứng (cellules souches pluripotentes induites), nghĩa là những tế bào của da và của mô liên kết của những người trưởng thành “ được tái chương trình hóa ”, điều này cho phép tránh mọi hiện tượng thải bỏ …và mọi tranh cãi đạo đức về việc sử dụng những tế bào phát xuất từ phôi thai.
Những nhóm nghiên cứu này đã làm tốt hơn khi khám phá những chất chỉ dấu mới, ba kháng thể, được biểu hiện bởi những tế bào tiền sinh tim mạch (progéniteurs cardiovasculaires). Từ nay điều đó cho phép phân lập chúng mà không cần phải nhờ đến thao tác di truyền (manipulation génétique). “ Trong tương lai sẽ có hai áp dụng trực tiếp. Một là có thể ghép những tế bào gốc cá thể hóa cho những bệnh nhân có cơ tim hay hệ tim mạch đã bị hoại tử, thí dụ sau một nhồi máu. Nhung điều đó cũng sẽ cho phép công nghiệp dược phẩm phân lập một cách khá đơn giản những tế bào tiền sinh tim mạch. Mục tiêu : có thể trắc nghiệm in vitro những thuốc tim tương lai, nhằm kiểm tra xem chúng có độc hay không và kiểm tra xem những thuốc này có thật sự đáp ứng với mục đích được tìm kiếm hay không, chúng có làm chậm nhịp tim hay cải thiện sự co bóp của cơ tim. Cho đến nay, không thể gia tăng những nghiên cứu lên hàng ngàn thành phần. Nhưng nhờ kỹ thuật này, điều đó sẽ trở nên khả dĩ.
(LE SOIR 9/3/2011)

5/ MỘT PROTEINE CÓ HIỆU QUẢ ĐỂ BẢO VỆ THỊ GIÁC CỦA NHỮNG NGƯỜI TRÊN 50 TUỔI.
Một cơ chế phân tử có liên hệ trong sự thoái hóa điểm vàng do tuổi già (dégénérescence maculaire lié à l’âge) vừa được khám phá.
Nguyên nhân chủ yếu của phế tật thị giác của những người trên 50 tuổi, bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge) gây bệnh cho 1 triệu người ở Pháp. Căn bệnh này là do sự mất các tế bào ở trung tâm võng mạc. Các cơ chế sinh học chịu trách nhiệm không được biết rõ, và không có một điều trị nào có hiệu quả để làm chậm lại sự tiến triển của thể bệnh thường xảy ra nhất, DMLA “ khô ”. Nhưng một kíp được điều khiển bởi Jayakrishna Ambati, thuộc đại học Kentucky, vừa khám phá một cơ chế phân tử có liên quan trong sự thoái hóa của các tế bào, mở ra những triễn vọng để điều trị căn bệnh.
Các quang thụ thể (Photorécepteur). Trong DMLA, những tế bào đầu tiên của võng mạc bị tàn lụi là những tế bào của biểu mô sắc tố (épithélium pigmentaire). Thế mà chính nhờ chúng mà những tế bào thần kinh của võng mạc phát hiện ánh sáng (các quang thụ thể) mới có thể hoạt động được, bởi vì chúng đảm bảo sự nuôi dưỡng những quang thụ thể này. Như thế, sự đánh mất những tế bào của biểu mô sắc tố này dẫn đến sự đánh mất những tế bào thụ cảm ánh sáng và sự mất thị giác. Jayakrishna Ambati và nhóm nghiên cứu của ông do đó đã nghiên cứu biểu hiện của các gène trong những tế bào của biểu mô sắc tố võng mạc của mười đôi mắt bị bệnh DMLA thể khô. Và điều ngạc nhiên : Họ đã quan sát rằng sự tổng hợp của một protéine, được gọi là DICER1, bị giảm 65% so với những tế bào của những con mắt không bị bệnh. Sau đó nơi chuột họ đã cho thấy rằng việc hủy bỏ sự biểu hiện của protéine này gây nên sự thoái hóa của những tế bào võng mạc.
“ Protéine DICER1 được biết là cắt các phân tử ARN thành những ARN nhỏ có can dự vào trong sự điều hòa các gène, Patrick Provost, thuộc đại học Laval, Québec, một trong những thành viên của nhóm nghiên cứu đã giải thích như vậy. Chúng tôi đã khảo sát tác dụng của sự hủy bỏ DICER1 lên những nồng độ của các ARN khác nhau trong những tế bào võng mạc. ” Kết quả các nhà nghiên cứu đã cho thấy rằng một ARN, được gọi là ARN Alu, tích tụ khi không có DICER1. Mặt khác, họ đã cho thấy rằng lúc được tiêm vào trong mắt chuột không biểu hiện DICER1, những ARN Alu này dẫn đến sự tử vong của những tế bào võng mạc. Ngược lại, khi phong bế tác dụng của những ARN này với những phân tử ức chế, các nhà nghiên cứu đã thành công ngăn cản sự chết của các tế bào. “ Điều đó cho thấy rằng trong điều kiện bình thường, DICER1 làm thoái hóa những phân tử này, như thế tránh không cho chúng tích tụ và có một tác dụng độc hại đối với những tế bào của mạc. ”
Vấn đề còn lại là phải tìm hiểu xem tại sao DICER1 ít được biểu hiện trong những tế bào võng mạc của những người bị bệnh DMLA, hay còn phải tìm hiểu tại sao ARN Alu lại độc đối với những tế bào. Đối với Emeline Nandrot, thuộc viện Thị giác (Paris), dầu thế nào đi nữa : “ Công trình nghiên cứu này mở ra một trường nghiên cứu mới trong việc tìm hiểu bệnh và khả dĩ mang lại những mục tiêu điều trị mới. ” Thật vậy, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu phát triển những loại thuốc có khả năng phong bế tác dụng độc hại của ARN Alu nơi người.
(LA RECHERCHE 4/2011)

6/ BỆNH LA PEYRONIE.
François Gigot de La Peyronie sinh ở Montpellier vào năm 1678, cha làm nghề thợ cạo (barbier), một nghề vào thời kỳ đó được biến cách thành thợ cạo hớt tóc (barbier coiffeur), thợ làm tóc giả (perruquier), và thợ cạo mổ xẻ (barbier chirurgien), phụ trách những phẫu thuật nhỏ. Bố ông mong muốn ông trở thành thầy thuốc, nhưng sau khi học tại các Jésuite và sau hai năm học triết học, François muốn là một nhà ngoại khoa “ thật sự ” và theo học trong thành phố quê ông nhờ sự hỗ trợ của một thầy thuốc, bạn thân của gia đình. Ông giành được văn bằng Cao học về ngoại khoa vào năm chỉ mới 19 tuổi và tiếp tục đào tạo ở Paris, tại bệnh viện Hôtel-Dieu, dưới sự chỉ đạo của Georges Mareschal, phẫu thuật viên trưởng (chirurgien-major), che chở ông và cho ông tạm trú. Mặt khác quân sư của ông không ai khác hơn là nhà phẫu thuật riêng của vua Louis XIV. Đào tạo xong, François trở lại Montpellier sống và làm việc trong 20 năm. Ông trở thành người diễn giảng môn cơ thể học và ngoại khoa, phẫu thuật viên trưởng của Hôtel-Dieu de Montpellier và là trợ giáo cơ thể học (démonstrateur d’anatomie) tại trường đại học y khoa.
MỘT NHÂN VẬT NỔI TIẾNG PARIS.
Vào năm 1714, ông chấp nhận lời mời đến Paris, lần này ông ở lại và không bỏ ra đi nữa. Ông được bổ nhiệm làm phẫu thuật viên trưởng (chirurgien-major) của Hôpital de la Charité và, đồng thời, ông giảng dạy cơ thể học tại giảng đường Saint-Côme và Jardin-du-Roi. Pierre Chirac, thầy thuốc đầu tiên của nhà vua, gởi ông đến để mổ cho duc de Chaulnes bị bệnh rò hậu môn (fistule anale). La Peyronie thành công những trường hợp mà những nguoi khác đã thất bại. Ông được phong phẫu thuật trưởng của “Compagnies de Chevaux- Légers d’ordonnance des Princes du Sang ” và, chẳng bao lâu sau được bổ nhiệm phẫu thuật viên hàng đầu của Hôpital de la Charité. Vào năm 1717, lúc 39 tuổi, ông được chọn để kế vị Mareschal như là phẫu thuật viên thứ nhất của vua Louis XVI. Mặc dầu ông được trả tiền cho chức vụ này, nhưng ông chỉ thật sự chiếm nó khi ông thầy (Mareschal) qua đời, gần 20 năm sau. Cùng lúc đó, La Peyronie được phong quý tộc ở tuổi 43. Mặc dầu là con của người thợ cạo (barbier), La Peyronie lao mình vào một cuộc xung đột chống lại nghề nghiệp này, nhất là các thợ cạo hớt tóc (barbier coiffeur) và thợ làm tóc giả (perruquier), và ông thuyết phục nhà vua cấm những người làm những nghề này không được quyền làm thầy ngoại khoa (maitrise de la chirurgie). Sau cùng vua Louis XV đã chấp nhận và ký một sắc lệnh vào năm 1743.
MỘT NHÀ TIÊN BỘ LỚN.
La Peyronnie không những là một nhà ngoại khoa “ đơn thuần ” , ông còn quan tâm nhiều đến hệ thống giáo dục y khoa, tái tổ chức các trường ngoại khoa và đưa vào chức vụ trợ giáo biểu diễn (assistant démonstrateur). Vào năm 1731, cùng với Georges Mareschal ông thành lập Viện Hàn lâm khoa học hoàng gia. Sự ra đời của cơ quan này là một trong những biến cố quan trọng nhất của thế kỷ XVIII và ảnh hưởng lên toàn châu Âu. Việc đoạn tuyệt với các người thợ cạo mang lại cho ngoại khoa những nghĩa đen cao quý : nhà phẫu thuật sau cùng trở nên ngang hàng với thầy thuốc. La Peytonie tự cá nhân mình tài trợ một chức giáo sư ngoại khoa và nhận 4 chức trách giáo sư mới ở Montpellier. Dĩ nhiên ông cũng là hội viên của Viện Hàn lâm khoa học hoàng gia. Vào năm 1743, ông mô tả “ sự hóa cứng dẻo (induration plastique) của các thể hang ” (corps caverneux) mang tên ông.
MỘT NGƯỜI RỘNG LƯỢNG.
Các bệnh nhân từ xa đến thăm khám ông. Trong số những bệnh nhân này, công tước Léopold de Lorraine, thường cho ông tiền thù lao hậu hĩnh, vua Ba Lan, Nga hoàng Pierre le Grand, hầu tước Vitzani của maison du pape Clément XI, không quên những quà tặng hậu hĩnh của vua Louis XIV và XV. Trở nên vô cùng giàu có, ông thành lập nhiều cơ quan từ thiện. Ông di tặng cho hội các nhà ngoại khoa, thư viện của ông và một đất đai sở hữu, cũng như những số tiền hậu hĩnh nhằm khen thưởng hàng năm công trình tốt nhất dành cho ngoại khoa. Giải thưởng là một huy chương vàng trị giá 500 livre, trên một bề mặt của huy chương có hình bán thân của vua Louis XV, trên mặt kia hình của Apollon, vị thần y học, Hygie, nữ thần sức khỏe và một huy hiệu hình La Peyronie. Ông để lại cho các thầy thuốc ngoại khoa Montpellier hai tư dinh nằm trong con đường chính của thành phố, cũng như 100.000 livre để xây dựng một nơi giảng dạy (théâtre de cours) phỏng theo Collège Saint-Côme de Paris. Ông mất ở Versailles năm 1747, chưa được 70 tuổi, để lại rất nhiều tác phẩm về những đề tài ngoại khoa khác nhau nhưng cũng để lại những chủ đề lạ lùng như “ Các cơ quan tiêu hóa ở cá tầm (esturgeon) ” hay “Những quả trứng nhỏ không có lòng vàng ”.
(LE GENERALISTE 7/4/2011)

7/ NHỮNG TÁC DỤNG PHỤ CỦA CHÂM CỨU ĐỐI VỚI CHỨNG BỆNH ĐAU LƯNG.
Khoảng 1% các bà và 6% các ông nhờ đến châm cứu để điều trị chứng đau lưng (lombalgie). Theo một cuộc điều tra, nguy cơ xuất hiện của một hậu quả không được mong muốn là 7,4%. Thường nhất đó là những khối máu tụ (hématome), chảy máu hay đau trong buổi châm cứu, xảy ra một trường hợp trên ba và trung bình kéo dài ba ngày. Đại đa số những phản ứng tại chỗ này là nhẹ và chỉ 2% cần phải điều trị, với nhập viện trong 0,03 % các trường hợp.
(SCIENCES ET VIE 4/2011)

7/ UNG THƯ : NHỮNG HY VỌNG CỦA MỘT VACCIN ĐIỀU TRỊ NƠI NGƯỜI ĐÀN ÔNG.
GS Claude Leclerc (Viện Pasteur, Inserm Unité 104), chef de l’unité de la régulation immunitaire et vaccinologie, giải thích những cách tác dụng của phương pháp mới được hiệu chính bởi nhóm nghiên cứu của bà.
Hỏi : Những loại ung thư nào có liên quan với các vaccin của bà đang được nghiên cứu ?
GS Claude Leclerc: Cho đến nay, những thử nghiệm của chúng tôi liên quan đến một ung thư của da, mélanome, ung thư của cổ tử cung và cũng nhiều loại adénocarcinome khác nhau (vú, phổi, đại tràng…).
Hỏi : Bà hãy nhắc lại cho chúng tôi sự khác nhau giữa vaccin phòng ngừa và vaccin điều trị ?
GS Claude Leclerc : Mục đích của một vaccin phòng ngừa là kích thích những đáp ứng miễn dịch để dạy chúng nhận biết một vật lạ (virus, vi khuẩn..) trước khi vật lạ này xâm nhập, nhằm vô hiệu hóa nó. Với một vaccin điều trị, đó là giáo dục những tế bào miễn dịch để chúng nhận biết và chống lại tức thời không phải một virus hay một vi khuẩn mà là những tế bào ung thư.
Hỏi : Những kết quả của những thử nghiệm trước về những vaccin này là gì ?
GS Claude Leclerc : Năm 2010 đã là quan trọng : ở Hoa Kỳ, một vaccin điều trị dành cho các ung thư di căn của tuyến tiền liệt (Provenge) đã nhận được giấy phép đưa ra thị trường của FDA. Một giai đoạn thiết yếu đã xác lập bằng cớ của khái niệm chủng ngừa điều trị (vaccination thérapeutique). Nếu với vaccin này ta đã có thể làm chậm lại sự tiến triển của bệnh, những thử nghiệm khác của các vaccin điều trị nhìn toàn bộ lại tỏ ra gây thất vọng (ngoại trừ một tỷ lệ thành công thấp đối với vài ung thư như các u hắc tố ác tính). Khi một khối u phát triển, tính hiệu quả của hệ miễn dịch giảm, vậy phải tái lập các phản ứng phòng vệ.
Hỏi : Các vaccin của nhóm nghiên cứu của bà ở Viện Pasteur đã tác động như thế nào ?
GS Claude Leclerc : Cộng tác với các nhóm nghiên cứu của Daniel Ladant và Sylvie Bay, chúng tôi đã hiệu chính hai chiến lược, đã cho phép phát triển hai vaccin. “ Starter ” của hệ miễn dịch, chịu trách nhiệm phát khởi những đáp ứng của những tế bào lympho, được cấu tạo bởi những tế bào đặc biệt (dendritiques). Vậy chúng tôi đã phát triển, với một phân tử hay vecteur (CyaA), một vaccin đầu tiên nhắm vào những tế bào lympho này để cho những tế bào này dạy đội quân của chúng (các tế bào lympho giết người : les lymphocytes tueurs) làm sao nhận biết và đi chống lại những tế bào ung thư. Vecteur thứ hai được sử dụng cho một vaccin thứ hai là MagTn3. Để hiểu tác dụng của nó, phải biết rằng trên bề mặt của những tế bào của một đại đa số các adénocarcinome ta phát hiện một phân tử nhỏ (Tn) vắng mặt nơi những tế bào lành mạnh. Vậy chúng toi đã chế tạo một vaccin nhằm vào “ nhãn hiệu ” Tn này. Mục tiêu, lần này, là giáo dục và kích thích hệ miễn dịch để hệ miễn dịch nhận biết những tế bào mang Tn và tiêu hủy chúng.
Hỏi : Thật ra, sự khác nhau giữa chiến lược chủng ngừa của bà và chiến lược của những vaccin trước đây lúc thử nghiệm là gì ?
GS Claude Leclerc : Công nghệ học thông thường lấy những tế bào dendritique này từ hệ miễn dịch rồi cấy chúng trong phòng thí nghiệm để rồi tiêm chúng trở lại vào bệnh nhân. Phương thức của chúng tôi, nhắm đích hơn nhiều, tác động trực tiếp lên những tế bào này.
Hỏi : Những kết quả của bà trong việc chống lại u hắc tố và ung thư cổ tử cung là gì ?
GS Claude Leclerc : Với vaccin chống lại ung thư tử cung, chúng tôi đã thực hiện những thử nghiệm (với công ty Genticel) trên hàng trăm chú chuột. Những kết quả tốt nơi các động vật được điều trị đã cho phép xác nhận những bằng cớ của phương pháp của chúng tôi. Vào giai đoạn hai, vào năm 2010, công ty Genticel đã được quyền tiến hành một thử nghiệm nơi vài ngàn phụ nữ bị nhiễm trùng bởi papillomavirus, chịu trách nhiệm ung thư tử cung. Đối với vaccin chống lại u hắc tố, ở Viện Pasteur, chúng tôi đã tiến hành những thử nghiệm nơi động vật với những kết quả thỏa mãn. Hôm nay, những nghiên cứu nơi người đang được tiến hành ở Bỉ.
Hỏi : Thế để chống lại các adénocarcinome, những công trình nghiên cứu đã đi đến đâu rồi ?
GS Claude Leclerc : Với phân tử Mag-Tn3, chúng tôi đã thu được những kết quả tốt nơi khỉ. Chúng tôi dự kiến những thử nghiệm nơi người vào năm 2013.
(PARIS MATCH 7/4-13/4/2011)

8/ DỊ ỨNG NẶNG : KHÁM PHÁ QUAN TRỌNG CƠ CHẾ SINH BỆNH
Phản vệ (anaphylaxie) là một phản ứng dị ứng nặng và diễn ra nhanh chóng tiếp theo sau khi đưa vào trong cơ thể một dị ứng nguyên (thức ăn, nọc độc côn trùng hay loài bò sát, thuốc…). Thể trầm trọng nhất của choáng phản vệ, có thể gây nên tử vong do ngừng tuần hoàn và ngạt thở. Từ lâu ta đã tin rằng cơ chế chủ yếu có liên quan đến vài kháng thể hiện diện trong cơ thể (IgE), khi bị kích thích bởi dị ứng nguyên, gây nên nơi vài bệnh nhân một sự phóng thích ồ ạt và không kiểm soát được những tác nhân gây choáng, hai chất tự nhiên được gọi là histamine và Paf (một yếu tố làm hoạt hóa các tiểu cầu). Các nhà nghiên cứu, Pierre Bruhns (Viện Pasteur) và Marc Daeron (Inserm U 760), vừa chứng minh nơi chuột rằng cơ chế chủ yếu đưa đến sự xuất hiện của một choáng phản vệ liên hệ đến, ngoài dị ứng nguyện, một kháng thể không được nghi ngờ, được gọi là IgG, của các bạch cầu trung tính và Paf. Histamine và IgE đóng một vai trò phụ. Các nhà nghiên cứu cũng đã cho thấy rằng việc tiêm một anti-Paf ngăn cản tử vong, trong khi các antihistaminique không ngăn cản gì hết.
(PARIS MATCH 7/4- 13/4/2011)

9/ UNG THƯ VÚ : THĂM KHÁM PHÁT HIỆN BỆNH BẮT ĐẦU TỪ 40 HAY 50 TUỔI ?
Chụp tuyến vú (mammographie) được thực hiện ngay lứa tuổi 40 làm gia tăng nguy cơ chẩn đoán quá mức (surdiagnostic).
PREVENTION. Cách nay 20 năm ; các công trình nghiên cứu của Thụy điển đã cho thấy rằng công tác phát hiện ung thư vú bắt đầu từ 50 tuổi bằng chụp tuyến vú (mammographie) một cách hệ thống làm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư vú, vì cho phép điều trị sớm hơn. Từ đó, công tác điều tra phát hiện được tổ chức gần như khắp nơi trong các nước công nghiệp và đặc biệt là ở Pháp.
Như vậy, giữa 50 và 74 tuổi, tất cả các phụ nữ cứ mỗi hai năm có thể hưởng một chụp tuyến vú nhờ chương trình phát hiện quốc gia.. Tuy vậy, 35% các phụ nữ trong lứa tuổi này đã không được chụp tuyến vú trong hai năm trước đợt điều tra cuối cùng năm 2005. Một con số khá gây kinh ngạc : trong cùng điều tra, 47% các phụ nữ ở lứa tuổi từ 40 đến 49 tuổi, vậy quá trẻ để có thể được hưởng một chương trình phát hiện có tổ chức, đã chụp tuyến vú dưới hai năm trước đó. Có phải bắt đầu phát hiện ngay ở tuổi 40 ? Câu hỏi được nêu lên một cách đều đặn trong các hội nghị quốc tế về y khoa.
VÚ DÀY DẶC VA MỜ ĐỤC
Mới đây, BS Nick Perry, thầy thuốc chuyên khoa quang tuyến, nhân một hội nghị ở Hoa Kỳ đã trình bày một công trình nghiên cứu trên 156 phụ nữ dưới 50 tuổi, được chẩn đoán ung thư vú và được điều trị trong 3 năm trong bệnh viện của ông, chỉ có 42 người là đã được chụp tuyến vú trước khi khám phá ung thư. Trong số những người này có 3 (19%) là đã bị cắt bỏ vú so với 64 (46%) trong số 140 người kia. Đối với vị thầy thuốc, “ công trình nghiên cứu này xác nhận tầm quan trọng của công tác điều tra phát hiện trước 50 tuổi và cho thấy rằng chụp tuyến vú hàng năm làm gia tăng các cơ may bảo tồn vú nếu như một ung thư phát triển ”
Mặc dầu công trình nghiên cứu này chỉ được thực hiện trên một số nhỏ các bệnh nhân, nhưng nó cho phép đưa vấn đề ra bàn bạc một cách cụ thể. “ Ở Pháp, chỉ có 23% các trường hợp cắt bỏ vú (mastectomie) nơi những phụ nữ từ 40 đến 49 tuổi bị ung thư vú. Ở Anh, việc tiếp cận với điều trị ít dễ dàng hơn có thể dẫn đến những trường hợp chẩn đoán các khối u lớn hơn ”, BS Brigitte Séradour, thầy thuốc chuyên khoa quang tuyến (Marseille), người phụ trách nhóm theo dõi chương trình quốc gia phát hiện đã bình luận như vậy.
Vấn đề còn lại là việc phát hiện sớm, trước 50 tuổi. Có gần 50.000 trường hợp mới và khoảng 11.000 trường hợp tử vong vì ung thư vú mỗi năm ở Pháp. Theo những con số được trình bày bởi BS Florence Molinié trong Journées de sénologie vừa qua, 1 chẩn đoán trên 5 và 1 tử vong trên mười do ung thư vú xảy đến nơi các phụ nữ dưới 50 tuổi. Nguy cơ ung thư vú chỉ là 2,4% trước 50 tuổi trong khi là 11,5% trước 75 tuổi.Vậy cần tập trung chủ yếu những phụ nữ trên 50 tuổi. Mặc dầu tỷ lệ sống sót toàn bộ sau chẩn đoán là khá cao (85% sau 5 năm), “ nhưng các phụ nữ trẻ có những khối u thường hung hãn hơn và một tỷ lệ sống còn ít tốt hơn, BS Camille Cluze (Strasbourg) trong cùng hội nghị đã nhắc lại như vậy, tuy nhiên những phương pháp được sử dụng trong các công trình nghiên cứu không cho phép phân tích một cách chính xác tác dụng của tuổi lúc chẩn đoán lên tiên lượng bệnh ”. Theo phương pháp mới điều biến nguy cơ (modélisation du risque) được trình bày, “ tuổi trẻ dường như chỉ còn là một yếu tố tiên lượng xấu đối với các khối u mức độ 3 ”, có tiến triển nhanh.
Một công tác điều tra phát hiện trước tuổi 50 mang lại lợi ích nào ? Theo phân tích được trình bày bởi Catherine Hill, thầy thuốc chuyên khoa dịch tễ học ở IGR (Villejuif), sự tổng hợp các thử nghiệm điều tra phát hiện ở ngoại quốc giữa năm 39 tuổi và 49 tuổi đánh giá rằng sự phát hiện trong lứa tuổi này làm giảm nguy cơ tử vong khoảng 15% so với những phụ nữ cùng lứa tuổi không được điều tra phát hiện. “ Nhưng nếu ta quy tỷ lệ này với số tử vong thật sự do ung thư vú ở Pháp, thì cần phải điều tra phát hiện 2200 phụ nữ 40 tuổi để tránh 1 tử vong trong 10 năm theo dõi, trong khi ở tuổi 60, chỉ cần phải điều tra phát hiện 320 phụ nữ để tránh 1 tử vong trong 10 năm theo dõi. ”
Vậy sự giảm nguy cơ tùy thuộc vào lứa tuổi vào lúc điều tra phát hiện đầu tiên : sự giảm này 8 lần thấp hơn ở lứa tuổi 40 so với 60. “ Ngoài ra, lúc chụp hình tuyến vú mỗi 2 năm giữa 40 và 49 tuổi, số những hình ảnh bất thường tăng cao khiến phải thực hiện một sinh thiết đối với mỗi 20 phụ nữ trước tuổi 50 đối với mỗi trường hợp tử vong tránh được, hoặc 5 lần nhiều hơn những phụ nữ 60 tuổi. Với một nguy cơ chẩn đoán quá mức (surdiagnostic) và cắt bỏ một ung thư nhỏ không nhất thiết đã tiến triển ”, nhà dịch tễ học đã xác nhận như vậy. Nói một cách khác, sự điều tra phát hiện càng sớm, thì những lợi ích của nó càng giảm và những bất tiện của nó càng tăng .
“ Trước 45 tuổi, ung thư vú hiếm khi xảy ra và sự ngấm kích thích tố (imprégnation hormonale) làm cho vú đặc và (mờ dense et opaque). Thật khó định vị được những can-xi hóa vi thể (microcalcification), dễ thấy hơn sau thời kỳ mãn kinh, BS Séradour đã giải thích như vậy. Sự xuất hiện những máy chụp hình vú số (mammographe numérique) “ plein champ ”, thích ứng hơn với các vú đặc, có lẽ sẽ biến đổi dữ kiện. Việc điều tra phát hiện cá thể trước 50 tuổi có thể được khuyên đối với những phụ nữ, do một bệnh lý hiền tính của vú, một chứng béo phì, một trường hợp ung thư vú nơi một người thân có một nguy cơ cá nhân gia tăng, gần với nguy cơ của một phụ nữ 50 tuổi. Trước hết phải biết định lượng những yếu tố cộng thêm này, điều này hiện nay chưa phải là như vậy. ” Biện pháp khác, biện pháp được dự kiến bởi những người Anh : thực hiện sớm hơn 2 hoặc 3 năm tuổi tối thiểu, để đưa vào phát hiện những phụ nữ trong thời kỳ sắp mãn kinh (périménopause).
(LE FIGARO 21/2/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(19/4/2011)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s