Thời sự y học số 217 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ CÁC PROTHESE HIGH-TECH CHỐNG LẠI BỆNH ĐIẾC TAI.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

CÁC CON SỐ. Những công trình nghiên cứu mới nhất ước tính rằng ở Pháp khoảng hơn 5.100.000 người bị giảm sút thính giác (déficience auditive) (8,7% dân số). Trong số những người này, 14% nói là sử dụng một hay nhiều thiết bị hỗ trợ thính giác (aide auditive). Tỷ lệ lưu hành của chứng điếc thường trực khi sinh (surdité permanente néonatale) được ước tính khoảng 1 trường hợp đối với 1000 lần sinh. Ngoài ra có nhiều trẻ em bị điếc bên trái hơn là bên phải. Và từ 80.000 đến 120.000 người điếc sử dụng ngôn ngữ bằng dấu hiệu tiếng Pháp.
NGUỒN GỐC. Có nhiều nguyên nhân của giảm sút thính giác. Có thể là do di truyền hay mắc phải trong thời kỳ thai nghén một căn bệnh (thí dụ toxoplasmose hay rubéole), do bị những bệnh lý sau khi sinh (như viêm màng não), do chấn thương âm thanh (traumaisme sonore), do thương tổn của vài vùng của não bộ, do vài loại thuốc hay do tuổi già.
MỨC ĐỘ NGHIÊM TRỌNG. Những trắc nghiệm đơn giản và không đau đớn là cần thiết để xác định mức độ điếc của một người. Đó là xác định sự giảm tri giác âm thanh (perception de sons) với những tần số khác nhau (từ cao đến trầm). Mất dưới 20 décibel, thính giác được xem như bình thường. Mất từ 20 đến 40 dB, ta nói là điếc nhẹ (surdité légère). Nhưng một cuộc đối thoại bình thường ở mức 40 dB, điều đó có thể gây trở ngại một đứa trẻ ở trường. Sau đó là những điếc mức độ trung bình, nặng và sâu (mất bổ sung 90dB).
IMPLANT. Đối với những mất thính giác trên 120 dB, ta nói là điếc hoàn toàn (hay cophose). Trong những trường hợp mất thính giác do một loạn năng của ốc tai (cochlée), một cơ quan nhỏ rất phức tạp, sẽ biến đổi những rung âm đến từ bên ngoài thành tín hiệu điện cho dây thần kinh thính giác. Có thể làm giảm sự suy sút này bằng cách thiết đặt những implant ốc tai, sẽ mang trực tiếp một tín hiệu điện đến dây thần kinh thính giác.

Các implant ốc tai đã cho phép mỗi năm khoảng 700 người Pháp nghe được trở lại.
OREILLE. Những vấn đề gây điếc đa dạng và ảnh hưởng lên rất nhiều người. Trong số những tiến bộ quan trọng nhất trong những năm qua là các implant ốc tai. Công nghệ học mũi nhọn (technologie de pointe) này chỉ được đề nghị sau khi các hỗ trợ thính giác (aide auditive) cổ điển thất bại. Các implant ốc tai được đặt cho các trẻ em bị chứng điếc vào lúc sinh (surdité de naissance) và cho những người lớn trở nên điếc, hoặc là do tai nạn (thí dụ sau một vụ nổ) , hoặc do một bệnh di truyền như bệnh xốp tai (otospongiose), được đặc trưng bởi sự vắng dẫn truyền của các rung âm (vibration sonore) đến tai trong (oreille interne), trong thế nặng của bệnh.
“ Tin vui, đó là các implant ốc tai, được gọi như thế bởi vì các điện cực của chúng được đặt vào tai trong để kích thích trực tiếp các tế bào cảm giác thính giác (cellules auditives sensorielles), đã nhận được những cải tiến cua các hỗ trợ thính giác cổ điển. Cũng như các các hỗ trợ thính giác này, các implant mới đã trở nên có thể phân biệt giữa tiếng ồn chung quanh và tiếng ồn của một cuộc nói chuyện (người ta gọi điều đó là débruitage), để phục hồi tốt nhất một cuộc đối thoại, GS Bruno Frachet, ORL (bệnh viện Avicenne) đã giải thích như vậy. Ngoài ra, kỹ thuật ngoại khoa cũng đã tiến triển : “ Khi vẫn còn tồn tại một khả năng nghe được những âm trầm, điều này thường xảy ra nơi những người trưởng thành trở nên bị lảng tai sau khi bị một căn bệnh, người thầy thuốc ngoại khoa khi đặt các điện cực sẽ chú ý bảo tồn chức năng còn lại này. Điều đó cho phép có được một thính giác tự nhiên hơn và một sự thông hiểu hơn lời nói, nhất là trong một bầu không khí ồn ào, GS Fracher đã xác nhận như vậy. Mặt khác, mặc dầu kỹ thuật ngoại khoa này ngày nay được hiệu chính tốt (với một sự can thiệp khoảng 1 giờ 30 đến 2 giờ với gây mê tổng quát và một sự kiểm tra thính giác vào lúc cuối phẫu thuật) một kỹ thuật ngoại khoa còn nhẹ nhàng hơn, với hệ thống hướng dẫn nhờ một robot, theo dự kiến sẽ được phát triển từ nay đến 2012 hay . Như vậy còn có thể rút ngắn thêm thời gian phẫu thuật…”
Vậy còn hơn là phẫu thuật, giai đoạn phục hồi chức năng (rééducation) vẫn còn là giai đoạn tế nhị nhất : “ Những người lớn được mổ, ngày xưa vốn đã nghe rõ và như thế đã học nói một cách bình thường, lành bệnh với một thời gian phục hồi chức năng ngắn (trung bình từ 4 đến 6 tháng) trong khi những trẻ em điếc khi sinh sẽ cần một thời gian phục hồi chức năng dài hơn nhiều để có thể khôi phục lại âm thanh được nghe và tạo mối liên hệ với ý nghĩa của nó ”, BS Christine Poncet-Wallet, ORL (bệnh viện Avicenne) đã ghi nhận như vậy. Những kết quả sẽ tốt hơn nếu đứa trẻ được đặt prothèse đúng trước năm 6 tuổi (lý tưởng là trước 24 tháng) và chính vì thế nhiều cố gắng đã được thực hiện về phương diện này, với những trung tâm chẩn đoán sớm, chuyên về chẩn đoán bệnh điếc cho các trẻ rất nhỏ.
Vấn đề còn lại là phải đảm bảo sự điều chỉnh prothèse qua năm tháng. Bởi vì mặc dầu hiện nay ở Pháp không nhiều hơn 700 implant ốc tai được thiết đặt, nhưng dầu sao điều đó vẫn tạo nên nhiều người cần được theo dõi sát. Thật vậy, tất cả các implant ốc tai cần một sự theo dõi hàng năm. Đó là lý do tại sao những trung tâm rất chuyên khoa mới được thành lập, như Institut francilien d’implantation cochléaire de Rothschild, theo dự kiến sẽ khai trương từ nay đến 2011. Dầu cho những tiến bộ này quan trọng như thế nào đi nữa, chúng vẫn theo đuổi cùng mục tiêu : làm giảm bớt các rối loạn về thính giác. Thế mà các nhà nghiên cứu từ nay còn muốn đi xa hơn và dứt khoát muốn chữa lành những căn bệnh làm chết các tế bào thính giác quý báu của chúng ta. “ Chúng ta chưa đến giai đoạn ghép các tế bào thính giác, vẫn còn lâu, GS Frachet đã nhấn mạnh như vậy, nhưng ta sẽ có thể từ nay đến 3 năm nữa, nhỏ vào tai trong, qua các implant ốc tai của chúng ta, những loại thuốc, thí dụ corticoides, rất hữu ích để chống lại quá trình viêm. Hoặc là antiglutamate, một chất bảo vệ các tế bào thần kinh thính giác, có nhiệm vụ truyền tín hiệu âm thanh từ những tế bào thính giác lên đến não bộ (sau một chấn thương âm thanh, glutamate, khi được phóng thích với lượng lớn, phá hủy những neurone này). Đó là một hướng nghiên cứu đầy hứa hẹn trước mắt.
NHỮNG TẾ BAO QUÝ BÁU.
Về lâu về dài hơn, các nhà nghiên cứu cũng hy vọng làm dễ sự mọc trở lại của những tế bào cảm giác thính giác. Để đạt được điều đó, họ dựa trên sự khám phá gène Atoh 1, có nhiệm vụ bảo đảm sự mọc của những tế bào quý giá này, nhưng chỉ trong thời kỳ phát triển phôi thai. Được đưa vào trong các tế bào cảm giác thính giác của những động vật gặm nhấm trưởng thành bị điếc, mặc dầu vậy gène Atoh 1 này đã cho phép những tế bào mới tái xuất hiện và sự đáp ứng thính giác đã tiến triển. Dĩ nhiên, ta vẫn còn trong giai đoạn chập chững của lý thuyết di truyền này, vì vậy không có gì được dự kiến về phương hướng này từ nay cho đến 15 năm nữa. “ Những thí dụ về những con chim mang lại hy vọng cho các nhà nghiên cứu: nơi các con chim này, sau một chấn thương âm thanh, sự mọc trở lại các tế bào cảm giác thính giác xảy ra một cách tự động và tự nhiên ”, GS Rémi Marianowski, trưởng khoa ORL (Brest) đã kết luận như vậy
(LE FIGARO 7/3/2011)
Ghi Chú :
– Implant : tất cả dụng cụ tự nhiên hay nhân tạo được đưa vào trong cơ thể. Các implant nhằm thay thế các cơ quan bị bệnh hay nhằm cải thiện chức năng của nó, để điều trị vài căn bệnh, hay để làm phân tán các loại thuốc hay các hormone, hay để điều biến (modeler) hình dáng.
– Implant cochléaire : Các điện cực được đặt bằng ngoại khoa bên trong ốc tai (cochlée), ở tai trong (oreille interne). Một implant ốc tai chỉ đươc đặt khi các prothèse thính giác không có hiệu quả, trong bệnh điếc do tri giác (surdité de perception) nặng, hoặc do bẩm sinh, hoặc do thương tổn tai trong do ngộ độc. Kỹ thuật ngoại khoa vi thể này vẫn còn ít được sử dụng.
– Otospongiose : Bệnh di truyền của tại giữa, tiến triển từ từ và gây nên điếc. Otospongiose xảy ra sau tuổi dậy thì, thuong là nơi nữ . Đó là một bệnh khiến các cử động của xương bàn đạp(étrier) bị khóa lại. Xương bàn dap là một xương nhỏ của tại giữa, nằm dựa trên mê cung. Sự bất động này chịu trách nhiệm một sự giảm rung của xương bàn đạp và một sự dẫn truyền âm thanh kém về phía tai trong.
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr157.htm (TSYH số 157, bài số 3)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr167.htm (TSYH số 167, bài số 6)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr170.htm (TSYH số 170, bài số 8 )

2/ NHỮNG ĐỘNG TÁC TỐT ĐỂ GIỮ GÌN THÍNH GIÁC.
Nếu mọi sự diễn biến tốt, các âm thanh, được hướng bởi vành tai, đi qua ống tai ngoài (conduit auditif externe), vượt qua màng nhĩ, ở đây các âm thanh được dẫn truyền kích thích 16.000 tế bào thính giác của chúng ta. Sau đó chúng được truyền vào trong não bộ, qua đây thần kinh thính giác, được cấu tạo bởi khoảng 30.000 neurone. Hậu quả : các tế bào cảm giác càng ít, khả năng thính giác càng ít hiệu quả. Thế mà ta không tránh được bệnh giảm thính tuổi già (presbyacousie), liên kết với sự lão hóa tự nhiên của tai trong : chứng bệnh này được thể hiện bởi một thương tổn của những tế bào có nhiệm vụ phát hiện những tần số cao và xuất hiện sau 50 tuổi nơi đàn ông, 60 tuổi nơi phụ nữ.
Mặc dầu thường xảy ra, chứng giảm thính giác tuổi già vẫn không giải thích tất cả các trường hợp giảm sút thính giác (déficience auditive), vì lẽ những người Pháp thuộc mọi lứa tuổi đều bị liên hệ : 40% những người nghễnh ngãng (malentendu) dưới 55 tuổi và 10% dưới 18 tuổi. Vậy ta không thể không biết vấn đề và có thái độ như thể chẳng có chuyện gì đã có thể làm biến đổi thính giác của chúng ta. Không có sự bình đẳng về vấn đề này và vài người rõ rệt yếu ớt hơn những người khác. Một cách đơn giản, những người này chỉ sẽ hay biết được điều đó một khi các thương tổn đã hiện diện. Tất cả chúng ta sẽ phải gìn giữ thính giác của chúng ta như một kho tàng thật sự, GS Frachet đã nhấn mạnh như vậy.
CHÚ Ý CÁC MÁY PHÓNG THANH.
Một ý kiến được chia sẻ bởi GS Marianowski, ông nhắc lại rằng những kẻ thù chủ yếu của những tế bào thính giác của chúng ta được biết rõ : “ Có những trường hợp nhận lãnh nguy cơ có tính toán như việc kê đơn vài loại thuốc. Nhưng chủ yếu có những trường hợp nhận lấy nguy cơ không được cân nhắc và có thể tránh được, như việc nghe nhạc với cường độ âm thanh quá mạnh.” Thí dụ với cường độ 100 décibel (một ngưỡng âm thanh đạt được một cách dễ dàng trong các hộp đêm hay trong các buổi hòa nhạc nếu ta ở gần các máy phóng thanh trong 6 giờ, thì đã có những thương tổn được thể hiện bởi những tiếng rít (sifflement), những tiếng ù tai và một sự giảm thính giác. “ Thế mà nếu những triệu chứng này tồn tại hơn 48 giờ, thì nguy cơ bị di chứng về âm thanh rất là cao. Chính vì thế, khi đó phải thăm khám một thầy thuốc chuyên TMH ”, GS Marianowski đã khuyên như thế.
Cũng cần phải làm : giữ cho tai yên tĩnh bởi vì những tế bào cảm giác thính giác có quyền nghỉ ngơi. Ngoài ra, trong tương lai, hãy có thói quen bảo vệ lấy tai minh với những bouchon d’oreille thích ứng, trước khi đi nghe hòa nhạc hay hạ độ vang của các baladeur hay điện thoại cầm thấy. “ Một chấn thương âm thanh mạnh và kéo dài gây nên sự đi vào bất bình thường của potassium trong các tế bào cảm giác thính giác, điều này có thể làm chết những tế bào này. Nếu trường hợp như vậy xảy ra, khi đó không có gì để làm cả để cứu những tế bào thính giác và việc mang một thiết bị hỗ trợ thinh giác trở nên giải pháp thay thế duy nhất, GS Marianowski đã nhắc lại như vậy !
(LE FIGARO 7/3/2011)

3/ NGOẠI KHOA : CON DAO MỒ THÔNG MINH
Sự phân biệt giữa mô lành và mô bệnh lý không phải luôn luôn có thể thấy được bằng mắt trần, thế mà đường cắt phải được thực hiện từng milimet một. Những con dao mổ mới chằng bao lâu nữa sẽ có khả năng chỉ rõ cho nhà phẫu thuật, en temps réel trên một màn ảnh, tính chất đích xác của loại mô mà ông ta đang cắt. Thí dụ trong ngoại khoa ung thư, điều quan trọng là cắt ngoài khối u. Con dao thông minh là một áp dụng của spectrométrie par RMN. Được đặt trong một từ trường, các nguyên tử cấu tạo một phân tử phát ra những tín hiệu đặc biệt mà tổng số cho phép nhận diện một cách chính xác tính chất của một loại mô. Một kíp phẫu thuật viên thuộc bệnh viện St Mary’s Hospital từ ít lâu nay, trong phòng mổ, sử dụng phương pháp này để nhận diện (trong vài phút) tính chất của một mẫu mô. BS Zoltan Takacs (đại học Giessen ở Đức) đã có ý tưởng hút, bằng một ống được đưa vào trong cán của dao mổ điện, những hơi được phát ra bởi những yếu tố được cắt và gởi chúng đến spectromètre, sẽ phân tích không đầy một giây đồng hồ tính chất của các mô được xẻ. Những nghiên cứu đang được tiến hành.
(PARIS MATCH 3/3-9/3/2011)

4/ SỰ VIỆC CHỤP NHIỀU LẦN QUANG TUYẾN CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?
Trước hết chúng ta hãy nhắc lại rằng kỹ thuật chụp quang tuyến nhờ đến các tia X. Các tia X là những bức xạ ion hóa (rayonnement ionisant) không thể thấy được, có khả năng đi xuyên qua cơ thể con người. Có thể chận lại một phần các tia X.Trong khoa quang tuyến, hiện tượng giảm bớt các bức xạ, được gây nên bởi những thành phần khác nhau của cơ thể con người (xương, mô, cơ, nước, không khí, các huyết quản…), cho phép thực hiện một hình ảnh chẩn đoán (image diagnostique).
Những bức xạ ion hóa với liều lượng mạnh có thể gây nên những tác dụng phụ được biết rõ như các “ viêm da phóng xạ ” (radiodermite). Những liều mạnh này không đạt được trong chụp hình ảnh chẩn đoán (imagerie diagnostique). Ngược lại, những tác dụng phụ của những liều thấp ít được biết đến hơn nhiều, đặc biệt là sự xuất hiện những biến dị di truyền (mutation génétique) và ung thư, bởi vì chúng có thể xảy đến dung ngay sau khi tiếp xúc và không phân biệt được với những bệnh lý xảy ra một cách tự nhiên. Tuy nhiên không có một bằng cớ nào chứng tỏ rằng các thăm khám hình ảnh chẩn đoán có thể là nguồn gốc các các ung thư. Vì điều không chắc chắn này, nên các cơ quan quốc tế và quốc gia sử dụng nguyên tắc thận trọng (principe de précaution) để xác lập quy chế, như thể hiện hữu, ngay với những bức xạ liều thấp, một mối liên hệ theo đường thẳng giữa liều lượng và nguy cơ.
KHI LỢI ÍCH CAO HƠN NGUY CƠ
Để hiểu tính chất phức tạp của vấn đề, phải biết rằng chụp hình ảnh không phải là nguồn duy nhất khiến ta tiếp xúc với các bức xạ ion hóa. Mỗi ngày chúng ta bị tiếp xúc những lượng nhỏ các bức xạ ion hóa phát xuất từ nhiều nguồn khác nhau : không khí mà chúng ta thở, đất đai, các bức xạ vũ trụ (rayonnement cosmique), các vật liệu xây dựng, nước, các thức ăn…Mức độ tiếp xúc với các bức xạ ion hóa nguồn gốc tự nhiên được ước tính trung bình ở Pháp là 2,5 millisievert (mSv) mỗi năm. Để so sánh, một lần chụp phim ngực phát ra giữa 0,005 và 0,01 mSv hoặc tương đương từ một đến hai ngày tiếp xúc với các bức xạ ion hóa tự nhiên. Một lần chụp phim bụng phát ra 0,4 mSv hoặc gần 2 tháng tiếp xúc với các bức xạ tự nhiên. Một lần thụt baryte tương đương khoảng 2,5 mSv hoặc một năm tiếp xúc với các bức xạ tự nhiên. Một CT scan của sọ khoảng 2 mSv hoặc 10 tháng tiếp xúc với các bức xạ tự nhiên. Một CT bụng từ 5 đến 10 mSv hoặc từ 4 đến 5 năm tiếp xúc với các bức xạ tự nhiên.
Sự bảo vệ phóng xạ (radioprotection) chỉ toàn bộ các biện pháp được thực hiện nhằm bảo vệ người và môi trường của nó chống lại những tác dụng có hại của các bức xạ ion hóa. Hai quy tắc lớn của bảo vệ phóng xạ, sự biện minh (justification) và sự tối ưu (optimisation), được thực hiện hàng ngày bởi những người chuyên nghiệp. Sự biện minh là ở sự kiện rằng, cũng như mọi động tác y khoa, lợi ích phải trên nguy cơ.
Mặc dầu nguy cơ của các liều thấp không được chứng minh, sự thận trọng muốn rằng ta phải xét đến trách nhiệm khả dĩ của nguy cơ này. Vậy chỉ định của một thăm khám, khiến bệnh nhân phải chịu những bức xạ ion hóa, phải được suy nghĩ kỹ và cân nhắc. Vậy thầy thuốc quang tuyến có nhiệm vụ xác minh thăm khám được yêu cầu bởi thầy thuốc, thậm chí đề nghị một thăm khám khác cho phép đáp ứng với câu hỏi mà người thầy thuốc đặt ra. Như thế đôi khi có thể thay thế một thăm khám sử dụng các tia X bằng một thăm khám không sử dụng nó, như siêu âm hay chụp hình ảnh bằng cộng hưởng điện từ (IRM).
Hiệp hội quang tuyến Pháp đã soạn thảo sách hướng dẫn về việc sử dụng tốt các thăm dò chụp hình ảnh để cho phép các thầy thuốc biết được thăm khám nào đáp ứng tốt nhất tình hình lâm sàng của bệnh nhân họ.
Sự tối ưu hóa (optimisation) các liều lượng được sử dụng là trách nhiệm của các thầy thuốc quang tuyến và những người thao tác kỹ thuật có thói quen sử dụng các tia X ở mức tối thiểu, cần thiết để có được một thăm dò cho phép đáp ứng những câu hỏi được đặt ra. Những biện pháp này được áp dụng đối với tất cả các bệnh nhân, nhưng còn được tăng cường đối với những thăm dò được thực hiện nơi các trẻ em mà sự nhạy cảm đối với các bức xạ ion hóa cao hơn và nơi những bệnh nhân mang một bệnh mãn tính cần những thăm khám lập lại.
Mặc dầu nguy cơ gây nên bởi các bức xạ ion hóa không được đánh giá thấp, tuy nhiên không nên vì e ngại những tác dụng phụ chưa bao giờ được chứng minh mà đánh mất cơ may cho các bệnh nhân và làm quên những lợi ích mà chụp hình ảnh mang lại cho các bệnh nhân. Nhờ những thăm khám hình ảnh này, các thầy thuốc quang tuyến thực hiện những chẩn đoán nhanh chóng và chính xác, cho phép điều trị nhanh hơn các bệnh nhân và theo dõi tính hiệu quả của điều trị.
(LE FIGARO 28/2/2011)
Đọc thêm :
TSYH số 162, bài số 2

5/ BỆNH LAO : VITAMINE D CÓ THỂ LÀM TĂNG NHANH SỰ CHỮA LÀNH.
Olivier Neyrolles là chuyên gia về bệnh lao ở viện dược liệu học và sinh học cấu trúc, đại học Toulouse
Hỏi : Một nhóm nghiên cứu người Anh vừa khảo sát tác dụng hỗ trợ của vitamine D trong điều trị chống lao. Công trình nghiên cứu này độc đáo ở chỗ nào ?
Olivier Neyrolles : Đó là công trình nghiên cứu đầu tiên đánh giác tác dụng của việc cho bổ sung vitamine D nơi những bệnh nhân bị bệnh lao đang được điều trị, đồng thời tìm kiếm biến thể nào cùa gène chịu trách nhiệm thụ thể đối với vitamine D các bệnh nhân có. Mục đích là xác định ảnh hưởng của một biến thể nào đó của gène này lên việc cho bổ sung vitamine D. Công trình nghiên cứu đã được tiến hành nơi 126 bệnh nhân. Hầu như tất cả đều bị thiếu hụt vitamine D, là điều thường xảy ra nơi các bệnh nhân bị lao. Ngoài điều trị kháng sinh chuẩn, một nửa các bệnh nhân này đã nhận 4 liều vitamine D uống, và một nửa kia là một placebo.
Hỏi : Những kết quả là gì ?
Olivier Neyrolles : Việc cho bổ sung vitamine D đã cho phép loại bỏ nhanh chóng hơn trực khuẩn lao trong hai lá phổi : trong 36 ngày thay vì 43 ngày, theo phân tích cấy in vitro của các mẫu nghiệm đờm. Sự giảm này không phải là không đáng kể, nhưng tuy nhiên về mặt thống kê sự giảm lại không đáng kể. Đối với vài bệnh nhân, có một biến thể đặc biệt của gène của thụ thể đối với vitamine D, sự giảm này mặc dầu thế lại quan trọng hơn. Khoảng 10% những người bị lao có biến thể của gène, được gọi là allèle t.
Hỏi : Vitamine D làm tăng nhanh điều trị như thế nào ?
Olivier Neyrolles : Từ lâu ta biết rằng vitamine D tăng cường đáp ứng miễn dịch chống lại bệnh lao. Nó cho phép tổng hợp các kháng sinh tự nhiên được gọi là peptide kháng khuẩn, và giúp các bạch cầu loại bỏ vi khuẩn. Các công trình nghiên cứu mới đây cũng đã cho thấy rằng allèle t của gène của thụ thể đối với vitamine D liên kết với một sự tổng hợp gia tăng của thụ thể này trong các bạch cầu, và với một năng lực quan trọng hơn của các bạch cầu này tiêu hủy trực khuẩn. Điều này giải thích tại sao những bệnh nhân có allèle này đã lành bệnh nhanh hơn với việc cho bổ sung vitamine D.
Hỏi : Công trình nghiên cứu này có thể được áp dụng như thế nào ?
Olivier Neyrolles : Công trình nghiên cứu cho thấy rằng việc cho bổ sung vitamine D là hữu ích trong điều trị bệnh lao. Nhưng bởi vì hiệu quả của việc cho thêm vitamine D vào điều trị không đáng kể nơi tất cả các bệnh nhân và bởi vì quá tốn kém khi phải tìm kiếm sự hiện diện của allèle t nơi tất cả bệnh nhân, nên có lẽ giới hữu trách y tế sẽ không khuyến nghị vitamine D. Và điều đó, chắc chắn là sai lầm, bởi vì vitamine D có thể cho phép làm giảm thời gian điều trị kháng sinh, ít nhất nơi những bệnh nhân mang allèle t. Thế mà, việc giảm thời gian điều trị sẽ cho phép làm giảm những vấn đề liên quan đến sự đều đặn khi dùng thuốc, được liên kết với những nguy cơ xuất hiện các giống gốc đề kháng của trực khuẩn lao.
(LA RECHERCHE 3/2011)

6/ CHẨN ĐOÁN TIỀN SINH KHÔNG XÂM NHẬP.
Sự phân tích một mẫu nghiệm máu của một phụ nữ có thai cho phép chẩn đoán nhiều bệnh di truyền tiềm tàng nơi phôi thai. Thật vậy, những nhà nghiên cứu cùa đại học Hồng Kông đã thành công phân lập gần như toàn bộ génome của một thai nhi 12 tuần từ một xét nghiệm máu nơi người mẹ ! Ta đã biết rằng những mảnh ADN của đứa bé sẽ sinh ra đời lưu thông trong tuần hoàn máu của người mẹ. Nhưng lần này, các nhà nghiên cứu Trung Hoa đã phát triển một phương pháp cho phép phân biệt một cách rõ ràng toàn bộ ADN của thai nhi với ADN của người mẹ. Vậy nhờ sự khám phá của các nhà nghiên cứu, sự lấy máu sẽ co thể thay thế những phuơng pháp vi xâm nhập như amniocentèse, để tìm kiếm trong chỉ một lần duy nhất những loại bệnh khác nhau liên kết với những biến dị phân tán xuyên qua génome (thiếu máu, các bệnh cơ). Tuy nhiên do phí tổn còn quá cao, kỹ thuật này sẽ không được phổ biến từ nay đến nhiều năm nữa. Từ nay đến đó, những vấn đề về đạo đức liên quan đến sự phát hiện một cách hệ thống và sớm nhiều bệnh, sẽ phải được giải quyết.
(SCIENCE ET VIE 3/2011)

7/ TẠI SAO BỆNH SỞI TRỞ LẠI MỘT CÁCH ĐÁNG LO NGẠI
Không những đã không bị triệt trừ, bệnh sởi đang xuất hiện trở lại, nhất là ở Pháp, nơi đây từ nay bệnh sởi gây bệnh…nơi người lớn. Tuy vậy có một vaccin hiệu quả. Vấn đề là phải sử dụng nó.
Ta vẫn thường còn xem bệnh sởi như là một bệnh nhi đồng hiền tính và đã được thanh toán. Nhưng bệnh sởi vẫn tồn tại và gây nên những biến chứng nghiêm trọng (nhất là viêm phổi và viêm não) nơi hàng trăm người trưởng thành. Từ khi phát khởi dịch bệnh quốc gia, đầu năm 2008, ta đếm được ở Pháp 6500 trường hợp tử vong được khai báo, trong đó khoảng 1000 trong hai tháng cuối của năm 2010. “ Một sự đánh giá thấp số các trường hợp thật sự ”, theo Isabelle Parent du Chatelet, thầy thuốc dịch tễ học thuộc Viện theo dõi y tế (Institut de veille sanitaire). Thật vậy khoảng hơn một chục ngàn người đã bị mắc bệnh. Và nước Pháp không phải là một trường hợp riêng rẻ, bệnh đã tái xuất hiện trong nhiều nước khác của châu Âu.
Không có gì đáng ngạc nhiên : Đã nhiều năm rồi giới hữu trách y tế lo ngại về việc tiêm chủng không đầy đủ chống lại bệnh sởi, vẫn dậm chân tại chỗ từ hai mươi năm qua dưới ngưỡng 95% các trẻ em được tiêm chủng. Nhất thiết phải vượt qua ngưỡng này để làm biến mất nguy cơ gây dịch của bệnh rất dễ lây nhiễm này. Đối với François Freymuth, giám đốc của Centre national de référence de la rougeole, sự tiến triển của việc tiêm chuẩn đã chậm lại trong những năm 1990, bởi vì “ các thông tin đã gieo nghi ngờ trong đầu của các thầy thuốc và các bố mẹ. Ví dụ việc đưa ra những mối liên hệ (mặc dầu chúng không được chứng minh hay bị bác bỏ sau đó) giữa các vaccin và sự xuất hiện của vài căn bệnh đã góp phần thuyết phục một bộ phận từ chối sự tiêm chủng. Các kết quả : việc tiêm chủng không đầy đủ, ngoài việc làm cho dịch bệnh tái xuất hiện, đã làm gia tăng mạnh mẽ tỷ lệ những người lớn bị lây nhiễm. Mặc dầu việc tiêm chủng một phần làm chậm lại sự lưu hành của virus, nhưng như thế cho phép các trẻ không được tiêm chủng thoát khỏi bệnh sởi. Nhưng những đứa trẻ không được chủng ngừa này sau đó trở thành những người lớn không được tiêm chủng (nghĩa là đã không được chủng ngừa cũng như tiếp xúc với virus), khả dĩ bị mắc bệnh.
Một hiện tượng đáng quan ngại, cũng như phần lớn các bệnh nhi đồng, những người trưởng thành bị bệnh sởi phát triển những biến chứng thường hơn các trẻ em. Để tránh một dịch bệnh như thế, cũng tạo nên một mối nguy hiểm đối với các nhũ nhi, những người bị suy giảm miễn dịch và những phụ nữ có thai, tái xuất hiện một cách đều đặn, do đó giới hữu trách y tế đã phát động một chiến dịch tiêm chủng đuổi (rattrapage vaccinal) đối với các trẻ em và những người lớn trẻ tuổi. Chúng ta hy vọng rằng lần này chiến dịch sẽ được tuân theo.
(SCIENCE ET VIE 3/2011)

8/ BỆNH ĐỤC THỦY TINH THẾ : NHỮNG IMPLANT THẾ HỆ MỚI NHẤT.
BS Yves Bokobza, thầy thuốc ngoại nhãn khoa thuộc bệnh viện Amboise-Paré de Boulogne-Billancourt, trình bày những ưu điểm của tiến bộ này, cho phép người được mổ thủy tinh thể miễn đeo kính.
Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những vấn đề thị giác ảnh hưởng, lên chúng ta lúc lớn tuổi ?
Yves Bokobza. Có hai vấn đề thị giác chính liên kết với tuổi già : chứng lão thị (presbytie) và bệnh đục thủy tinh thể (cataracte), hai bệnh có liên quan với thủy tinh thể. Vào khoảng 45 tuổi, chứng lão thị xuất hiện : thủy tinh thể không còn có thể điều tiết để cho phép nhìn gần rõ, và ta buộc phải mang kính. Bệnh đục thủy tinh thể nói chung xuất hiện sau 65 tuổi. Thủy tinh thể mờ đục dần dần, làm giảm thị lực và bị lòa lúc tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Thường vốn đã có một khuyết tật thị giác liên kết, không phải do tuổi già : cận thị, loạn thị, viễn thị…
Hỏi : Trong những trường hợp nào ta cần phải đặt một implant ?
Yves Bokobza. Implant là một thủy tinh thể nhân tạo, thay thế thủy tinh thể bị mờ đục. Implant này cũng cho phép, ngay cả khi không có đục thủy tinh thể và sau 55 tuổi, điều chỉnh một cận thị nặng, một viễn thị hay một lão thị một khi một can thiệp bằng laser không thể thực hiện được. Trong trường hợp này đó là mot chirurgie de confort, cho phép không phải dùng kính.
Hỏi : Trong chi tiết , những kỹ thuật implantation này là gì ?
Yves Bokobza. Đó là lấy đi thủy tinh thể để thay thế bằng một thủy tinh thể nhân tạo. Các implant thuộc thế hệ thứ nhất là những monofocal, và tái lập một thị giác tốt nhưng chỉ một khoảng cách mà thôi. Để phục hồi một thị giác nhìn xa cũng như nhìn gần, có thể mổ một mắt để nhìn xa và mắt kia để nhìn gần. Nhờ những tiến bộ trong những năm qua, các implant multifocal đã được hiệu chính và cho phép điều chỉnh đồng thời hai thị giác.
Hỏi : Để có thể chọn lọc implant tốt, chẩn đoán được thực hiện như thế nào ?
Yves Bokobza. Sự chọn lọc chủ yếu nhờ đến siêu âm mắt và các kỹ thuật tính bằng ordinateur. Chúng tôi cũng nhờ đến cornéotopographie, xác định tầm quan trọng và trục của lão thị, và OCT (tomographie à cohérence optique đối với võng mạc. Điều cơ bản là phải loại bỏ một bất thường võng mạc hay một glaucome, là những chống chỉ định đối với implant multifocal.
Hỏi : Những kết quả của các implant monofocal ?
Yves Bokobza. Các implant monofocal rất tốt nhưng bởi vì các implant này không hủy bỏ các rối loạn thị giác liên kết (loạn thị, lão thị), nên bệnh nhân tiếp tục mang kính để nhìn gần. Sự chinh xác lớn trong sự lựa chọn implant là yếu tố quyết định đối với kết quả. Trong trường hợp chọn sai, ta có thể thay thế nó.
Hỏi : Tiến bộ nào được thực hiện đối với thế hệ implant mới đối với bệnh đục thủy tinh thể ?
Yves Bokobza. Chúng ta đã đi vào trong một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của ngoại khoa khúc xạ (chirurgie réfractive) của đục thủy tinh thể. Từ nay đó là, và đây là một tiến bộ to lớn, cho phép bệnh nhân được mổ đục thủy tinh thể không những điều chỉnh sự giảm thị lực, mà còn không cần đến kính đeo. Từ nay, cùng một implant điều chỉnh toàn bộ các khuyết tật thị giác.
Hỏi : Ông có thể xác định rõ hơn cho chúng tôi về những implant này ?
Yves Bokobza. Những implant thế hệ mới cũng cho phép điều chỉnh chứng loạn thị thường được liên kết (20% các trường hợp). Đó là một implant torique en acrylique kèm theo một thiết bị quang học điều chỉnh chứng loạn thị. Có hai loại : monofocal torique (đã xuất hiện cách nay 18 tháng), cho phép người được mổ đục thủy tinh thể phục hồi một thị giác nhìn xa hoàn hảo, và multifocal torique (trên thị trường từ 3 tháng nay), có cùng những ưu điểm nhưng cũng điều chỉnh thị giác nhìn gần, nghĩa là chứng lão thị. Ở Pháp, trên nhiều bệnh nhân được mổ, các kết quả đã tỏ ra rất tốt. Trong dưới 10% các trường hợp, các bệnh nhân có thể bị khó chịu tạm thời bởi những vòng sáng ban đêm.
(PARIS MATCH 3/3-9/3/2011)
Đọc thêm : Thông tin y học về bệnh đục thủy tinh thể

9/ MỘT CUỘC CÁCH MẠNG CHỐNG LẠI PHÌNH ĐỘNG MẠCH.
Điểm chủ yếu :
– Một prothèse đổi mới cho phép lợi được thời gian và làm giảm
nguy cơ xuất huyết tái phát.
– Hôm thứ hai, bệnh nhân thứ ba đã được mổ thành công ở Bi.
– Nhiên hậu kỹ thuật này cho phép thay thế các điều trị hiện nay.
Giọng nói hạ thấp xuống, hầu như không nghe được, các bàn tay xoay quanh một cách nhanh chóng từng vài milimet. Cách đó một mét, trong não bộ của bệnh nhân, Jacques, một prothèse cách mạng đang xê dịch, được hướng dẫn từ xa, vào tâm điển của một phình động mạch (anévrisme). Giáo sư Boris Lubicz đang mổ một cách im lặng, giữa khoảng 6 người. Ta chẳng nghe thấy một lời kêu than hay một lời chửi thề. Và tuy vậy, con đường mà cathéter, một ống mảnh, phải theo để sau đó mang prothèse đến nơi cái bọc của phình động mạch (poche anévrismale), lại là con đường zig-zag. Một rallyman, để đi qua các khúc ngoặt phải cần đến phanh tay. Nhưng điều đó không thể thực hiện ở đây, vì các thành động mạch không thể chịu được một thương tổn nào. “ Thêm một papa nữa ”, thầy thuốc chuyên khoa điều khiển một trong ba trung tâm trên thế giới và đã được giấy phép trắc nghiệm kỹ thuật đổi mới này, đã yêu cầu như vậy. “ papa ”, có nghĩa là papavérine, một thuốc giúp làm giãn các động mạch. Vào lúc 9 giờ, Jacques, vốn đã đau đầu dữ dội không giải thích được từ nhiều tháng nay, đã phải ngủ thiếp đi. Một người phụ tá, Benjamin, đã mở đường đến tâm điểm của những động mạch ngoằn nghèo của người bệnh 60 tuổi này. Phòng mổ đầy các công nghệ học cực kỳ tận tiến (technologie ultra-avancée).
Nhưng đạt đến mục tiêu không phải là đơn giản. Một, hai, ba lần, cathéter tiến lên phía trước, lùi lại, tiếp tục tiến lên, do dự. Mọi người đều nín thở. Ta sẽ phải từ bỏ mục tiêu và phải sử dụng các vòng cuộn các đợi platine (coils) truyền thống đối với bệnh nhân này ? Cuối tuần qua diễn ra nhiều phẫu thuật cấp cứu, trong đó ông phải đặt cho một khách du lịch hai stent. Nhiều giờ phẫu thuật… nhưng đối với jacques, ông đạt đến được mục tiêu. Prothèse được mở ra, dòng máu chảy chậm lại.
GS Lubicz đặt một prothèse mới vào thứ ba này. Một cái khác ngày mai. Với hy vọng làm lùi lại thêm nữa tỷ lệ tử vong gây nên bởi các phình động mạch, bệnh lý ảnh hưởng lên khoảng 3% dân chúng. Được khám phá lúc xuất huyết não, phình động mạch gây tử vong trong 60% các trường hợp. Nhưng được nhận diện một cách tình cờ trong lúc thăm khám vì một lý do khác hay trong lúc điều tra phát hiện (sự hiện hữu của nhiều trường hợp trong gia đình phải thúc đẩy những thăm khám phòng ngừa ngay lúc 20-30 tuổi), bệnh phình động mạch ngày nay, trong hầu hết các trường hợp có thể được vô hiệu hóa.
CÁC KỸ THUẬT MỒ PHÌNH ĐỘNG MẠCH THEO THỜI GIAN
1960 : Khoan xương sọ (trépanation) và đặt một clip ở cổ của phình động mạch (collet de l’anévrisme). Trước đây được thực hiện cách xa thời điểm xuất huyết, giờ đây phẫu thuật này được đề nghị sớm.
1990. Nhờ quang tuyến can thiệp (radiolgie interventionnelle), gây tắc bằng vòng xoắn các sợi platine (filaments, coils,) được đưa đến nhờ microcathéter qua động mạch đùi. Trong phình động mạch, vòng cuộn được mở ra để bịt nó.
2000 : Gây tắc bằng các sợi (filaments) với sự hỗ trợ của một quả bóng nhỏ (ballonnet), được dùng để đặt các sợi và sau đó được lấy đi. Kỹ thuật được sử dụng khi cổ phình động mạch lớn.
2000 : Gây tắc bằng một stent, một ống có lưới sắt (un tuyau grillagé), cho phép cắm các sợi (filaments). Kỹ thuật được sử dụng khi cổ phình động mạch lớn.
2011. Gây tắc bằng prothèse Web, loại treillis, hình thuẫn, mở ra trong phình động mạch. Kỹ thuật đang được xác minh.
KỸ THUẬT NÀY SẼ THAY THẾ NHỮNG KỸ THUẬT KHÁC.
“ Hãy nhìn phim X quang kiểm tra : phình động mạch đã biến mất, như thể ta đã tẩy nó đi. Chỉ còn lại vết của prothèse mà chúng tôi vừa thiết đặt. Kỹ thuật này chỉ mất vài phút, so với 10 lần thời gian nhiều hơn với kỹ thuật mà chúng ta đã dùng cho đến nay. ” GS Boris Lubicz phấn khởi bởi tính hiệu quả của prothèse mới chống lại các phình động mạch não mà ông đang trắc nghiệm, hiện là người duy nhất ở Châu Âu (cùng với một kíp người Đức) thực hiện kỹ thuật này, trong Clinique de Neuroradiologie diagnostique et interventionnelle, thuộc bệnh viện Đại học Erasme (ULB), mà ông là trưởng khoa ở tuổi 38.
Vào ngày thứ hai này, đó mới chỉ là lần thứ ba mà ông sử dụng công cụ này, có thể cách mạng hóa y khoa. Thật vậy prothèse này, được mệnh danh là Web, không giống chut nào với những gì đã được biết cho đếnhôm nay để chống lại phình động mạch. Đó là một lắp ráp có kích thước vài milimet của một loại lưới mắt cáo (treillis), hình thuẫn, được sắp xếp thành 3 lớp nối tiếp nhau, tạo thành hai tầng có kích thước không giống nhau.
“ Ta đặt tầng được tết dày đặc nhất về phía mái vòm của phình động mạch, nơi đây nguy cơ vỡ là quan trọng nhất. Thật khá ngạc nhiên : trong vài giây, lượng máu, vốn rất bị rối loạn của phình động mạch, ngừng lại, và máu trở lại một tuần hoàn bình thường, không còn đi vào trong cái túi phình động mạch nữa. Theo dòng thời gian, túi phình động mạch được tạo thành trong thành của động mạch não và nguy cơ vỡ với những hậu quả tệ hại nhất nếu không có sự can thiệp nhanh chóng của một kíp chuyên khoa.” Prothèse này là một hợp kim được cấu tạo bởi nickel và titane. Ưu điểm của nó là lấy lại hình dáng nguyên thủy ở nhiệt độ 37 độ C, nhiệt độ của cơ thể con người.
(LE SOIR 1/3/2011)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr44.htm (TSYH số 44 bài số 1)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr53.htm (TSYH số 53, bài số 2)

10/ HÃY LÀM NGỪNG LẠI BỆNH LAO !
(Tiếp theo số 215)
TỪ ĐỂ KHÁNG NÀY ĐẾN ĐỂ KHÁNG KHÁC.
Tuy nhiên, khía cạnh có lẽ gây lo ngại nhất của đại dịch lao hiện nay là sự đề kháng của trực khuẩn lao với các kháng sinh. Để hiểu bằng cách nào ta đã đi đến tinh huống này, trước hết chúng ta hãy xem xét ta điều trị bệnh lao như thế nào. Liệu pháp hiện nay, được hiệu chính trong những năm 1960, là một điều trị gò bó, bao gồm 4 loại thuốc isoniazide, éthambutol, pyrazinamide và rifampicine. Những bệnh nhân theo điều trị, nếu tôn trọng điều quy định, trung bình sử dụng 130 liều thuốc, nếu có thể được theo dõi bởi một nhân viên điều trị. Điều trị này có hiệu quả chống lại bệnh lao nhạy cảm thuốc, nếu bệnh nhân theo nó trong 6 đến 9 tháng.
Các giống gốc đề kháng với thuốc xuất hiện khi các bệnh nhân không theo đến cùng protocole, hoặc là bởi vì họ cảm thấy khá hơn, hoặc là bởi vì sự cung cấp thuốc bị gián đoạn vì một lý do nào đó.
Một sự sử dụng gián đoạn các kháng sinh làm dễ sự chọn lọc các giống gốc đề kháng với các loại thuốc. Thật vậy, một điều trị bằng kháng sinh bắt đầu bằng cách tiêu diệt những vi khuẩn nhạy cảm nhất. Nó cũng giết chết những vi khuẩn ít nhạy cảm nhất, nhưng những vi khuẩn này vẫn nổi bật vì lẽ những vì khuẩn cạnh tranh với chúng (những vi khuẩn nhạy cảm nhất) đã bị loại bỏ, nên chúng có nhiều phương tiện hơn : những vi khuẩn còn lại có khuynh hướng tăng sinh một cách âm thầm. Nếu điều trị vẫn tiếp tục, cuối cùng chúng sẽ bị loại bỏ.
Ngược lại, khi một bệnh nhân ngừng điều trị, các vi khuẩn đề kháng nhất lợi dụng điều đó để tăng sinh, chiếm tất cả không gian được để trống bởi các vi khuẩn nhạy cảm. Bệnh nhân chịu một đợt tấn công mới của vi khuẩn, nhưng lần này là các vi khuẩn đề kháng với các kháng sinh. Khi một giống gốc đề kháng xuất hiện nơi một người, nó có thể lan tràn sang những người khác (chính vì vậy vài tác giả tuyên bố rằng thà không bắt đầu một điều trị còn hơn là theo một điều trị không hoàn toàn).
Theo Tổ chức y tế thế giới, gần 5% trong số khoảng 8 triệu trường hợp lao mới được khai báo mỗi năm có liên quan đến những vi khuẩn đề kháng với hai loại thuốc thường được sử dụng nhất trong điều trị hiện nay : isoniazide và rifampicine. Phần lớn những trường hợp những bệnh lao được gọi là đa đề kháng (tuberculose multirésistante) này có thể được điều trị, nhưng cần đến hai năm điều trị với các thuốc kháng lao khác, được gọi là dòng hai (antituberculeux de seconde ligne), có những tác dụng phụ nặng.
Ngoài ra, điều trị chống lại những bệnh lao đa đề kháng phí tổn đến 1400 lần nhiều hơn điều trị bình thường. Vì lẽ phần lớn các bệnh lao đa đề kháng xảy ra trong những nước nghèo, nên điều trị này không được sử dụng. Chỉ 2% những trường hợp lao đa đề kháng là được điều trị một cách đúng đắn trên thế giới. Từ vài năm nay, đã xuất hiện một mối đe dọa còn đáng quan ngại hơn, đó là bệnh lao cực kỳ đề kháng (tuberculose ultrarésistante). Loại bệnh lao này, đã tạo nên những dau đề lớn vào năm 2006 sau sự xuất hiện của một ổ bệnh ở KwaZulu-Natal ở Nam Phi, đề kháng với hầu hết các thuốc có hiệu quả được sử dụng như là điều trị tuyến hai (traitement de seconde ligne). Mặc dầu dạng này thường ít xảy ra hơn các bệnh lao đa đề kháng, nhưng nó có thể tiến triển và lan tràn bất cứ ở đâu các thuốc tuyến hai được sử dụng. Theo Tổ chức y tế thế giới, 49 nước đã xác nhận những trường hợp từ tháng sáu năm 2008. Nhưng có lẽ còn có nhiều hơn nữa, bởi vì ít nước có những phòng xét nghiệm được trang bị để chẩn đoán loại bệnh lao này.
Nói rằng các nhà khoa học đã lầm khi giả định rằng các loại thuốc tuyến đầu (médicaments de première ligne) của những năm 1950 cũng đủ để chống lại bệnh lao là một cách nói uyển chuyển. Ngoài ra, vì hầu hết các bệnh nhân lao đều tập trung ở vài trong số các nước nghèo nhất trên thế giới, nên các công ty dược phẩm ít đầu tư trong nghiên cứu và phát triển những loại thuốc mới. Và trong số những công nghiệp dược phẩm quan trọng nhất, chiếm ưu thế ý nghĩ cho rằng phí tổn phát triển các loại thuốc (100 đến 200 triệu euro và 7-10 năm cho mỗi loại thuốc) vượt quá thị trường tiềm năng đối với những dược phẩm như thế.
Tuy nhiên, nhờ các chương trình chính phủ và những hiến tặng, những cố gắng quan trọng được thực hiện để hiệu chính những kháng sinh chống lại bệnh lao. Mục tiêu là tìm ra những thuốc hiệu quả chống lại những giống gốc đề kháng và làm giảm bớt thời gian điều trị.
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr140.htm (TSYH so 140 bài so 8 )

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(14/3/2011)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s