Thời sự y học số 216 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ THUỐC LÁ : PHẢI BÁO ĐỘNG NHANH KHI KHÓ THỞ.

Những điểm mốc

PHỔI. Bệnh phế quản- phổi tắc mãn tính (BPCO hay bronchopneumopathie chronique obstructive) hôm nay là bệnh hô hấp đứng thứ hai sau hen phế quản và nguyên nhân thứ 6 gây tử vong ở Pháp. BPCO là nguyên nhân thứ ba gây tử vong trên thế giới năm 2020.
THUỐC LÁ. Bệnh BPCO phần lớn đã không được nói đến trong các cuộc tranh luận và bởi giới truyền thông, lúc đạo luận cấm hút thuốc ở những công cộng bắt đầu được áp dụng. Nhiều điều đã được nói và được viết về 60.000 trường hợp ung thư phổi được gây nên bởi chứng nghiện thuốc lá chủ động hay thụ động. Không có hay gần như không có gì được viết về 600.000 người Pháp đang sống hằng ngày với triệu chứng khó thở mà nguyên nhân là BPCO.
CHẨN ĐOÁN. Ở Pháp, bệnh phế quản-phổi tắc mãn tính ảnh hưởng lên 5 đến 10% dân chúng trưởng thành. Nhưng chỉ 20 đến 30% các trường hợp được chẩn đoán và 10 đến 15% được điều trị !
CHI PHI Y TẾ. Do thiếu đủ số lượng các trung tâm phục hồi, chỉ dưới 26.000 bệnh nhân ở Pháp mỗi năm được hưởng một sự phục hồi chức năng hô hấp, phương tiện duy nhất thật sự cải thiện chất lượng sống của những người bị bệnh BPCO ở một giai đoạn tiến triển. Các con số thật hùng hồn : 11% những người bị mất năng lực, 8% những trường hợp nghỉ việc và 11% trường hợp phải nhập viện một hay nhiều lần mỗi năm. Trung bình 6.000 euro dành cho chi phi y tế mỗi năm và mỗi bệnh nhân, 10.000 euro dành cho một bệnh nhân được điều trị với oxy ở nhà, nguyên nhân đứng đầu khiến nghỉ việc đối với bệnh hô hấp.
THẾ GIỚI. Khoang 44 triệu người bị bệnh BPCO trên thế giới (4 đến 10% dân số thế giới). OMS ước lượng số trường hợp tử vong do BPCO vào năm 2000 trên thế giới là 2,74 triệu người. Chính hôm nay BPC là nguyên nhân thứ tư gây tử vong trên thế giới trong khi nó chỉ chiếm vị trí thứ sáu vào năm 1990.

Bệnh phế quản phổi tắc mãn tính (BPCO), thương tổn năng lực hô hấp của phổi, có thể trở nên một nguyên nhân gây tử vong quan trọng hơn ung thư.

PNEUMOLOGIE. “ Bệnh phế quản- phế tắc mãn tính, thường được gọi là BPCO (broncho-pneumopathie chronique obstructive), giết chết 17.000 người mỗi năm, cần một hỗ trợ hô hấp cho 100.000 người và gây phí tổn 2 tỉ euro mỗi năm, trong khi đó là một căn bệnh hoàn toàn có thể phòng ngừa được, GS Antoine Magnan, trưởng khoa pneumologie của Institut de thorax, CHU de Natntes đã lấy làm tiếc như vậy.
Bệnh phế quản-phổi mãn tính gây bệnh cho 6 đến 8% dân số ở Pháp hoặc 3,5 triệu người. Thật ra, chứng nhiễm độc thuốc lá (tabagisme), kể cả một cách thụ động, là nguyên nhân của khoảng 90% các trường hợp, con những trường hợp khác chủ yếu được liên kết với sự tiếp xúc do nghề nghiệp. Bệnh BPCO phát ra sau 45 tuổi, thường là ở đàn ông trong 6 trường hợp trên 10, những mức chênh lệch với phụ nữ thu giảm mỗi năm. Để chống lại bệnh BPCO, trước hết phải hiểu biết tốt hơn về sự hiện hữu của nó (chỉ 8% những người Pháp là đã có nghe nói đến), một chẩn đoán tốt hơn (70% các bệnh nhân không biết là mình bị bệnh) và một sự hội nhập tốt hơn trong hệ thống y tế (một nửa bệnh nhân được chẩn đoán được điều trị một cách đúng đắn).
Bệnh BPCO là một bệnh mãn tính với tiến triển từ từ, gây thương tổn cho các phế quản rồi hai lá phổi và làm giảm dần dần năng lực hô hấp. Bệnh bắt đầu bằng một khó thở đơn thuần lúc thực hiện những gắng sức quan trọng và chấm dứt bằng một suy hô hấp, dẫn đến tử vong sớm. Những dấu hiệu đầu tiên của BPCO (khó thở, ho và khạc đờm vào buổi sáng) xảy ra mà không được nhận thấy, nhất là bởi vì những người hút thuốc cho rằng chúng là hậu quả không tránh được của thuốc lá.
Trong nhiều trường hợp, BPCO được chẩn đoán khi có một cơn bộc phát cần phải nhập viện. “ Chỉ cần đo hơi thở, được thực hiện dễ dàng nơi thầy thuốc gia đình, tuy vậy cho phép xác định năng lực hô hấp có bị ảnh hưởng hay không, đứng trước một triệu chứng ho dẳng hay những viêm phế quản thường xảy ra và khó giải quyết, có hay không có thuốc lá ”, GS Bruno Housset, chủ tịch của Fédération française de pneumologie đã chỉ rõ như vậy. Sự đo đầu tiên này có thể được tiếp theo sau bởi một thăm khám sâu hơn của chức năng hô hấp, với, trong vài truong hợp đo khí huyết động mạch (gaz du sang artériel)
KHÔNG CÓ PHƯƠNG THUỐC.
Hiện nay, không có thuốc nào cho phép diều trị BPCO và các nhà nghiên cứu không có ứng viên hứa hẹn được dự kiến, mặc dầu các công trình nghiên cứu mới đây bắt đầu xác định những nhóm bệnh nhân đáp ứng tốt nhất đối với vài loại điều trị là những nhóm nào. Tuy nhiên, những biện pháp vệ sinh đời sống cho phép làm ngừng lại sự tiến triển của bệnh và phục hồi lại một sức khỏe thỏa mãn, nhất là chẩn đoán được thực hiện sớm. Các bệnh nhân phải vào trong một circuit BPCO để thiết lập một điều trị toàn bộ. Sự giáo dục điều trị, cũng như trong nhiều bệnh mãn tính, là một yếu tố quan trọng để thành công và các hiệp hội bệnh nhân đóng một vai trò thiết yếu.
Bệnh BPCO phần lớn ảnh hưởng lên những người hút thuốc. “ Sự ngừng hút thuốc phải luôn luôn được đề nghị với bệnh nhân bởi vì nó cho phép phục hồi trở lại quá trình lão hóa bình thường của các lá phổi, dầu cho tuổi tác và số lượng thuốc lá được hút như thế nào”, GS Magnan đã nhấn mạnh như vậy. Sự phục hồi chức năng hô hấp (réhabilitaion respiratoire) và sự tái tập luyện lúc gắng sức là giai đoạn cần thiết thứ hai bởi vì chúng, khi ngừng hút thuốc, đã chứng tỏ hiệu quả lên tỷ lệ sống sót của bệnh nhân trong khi các thuộc hiện có chỉ điều trị các triệu chứng.
Thật vậy, một khi những điều kiện tiên quyết này đã được xác lập, có thể nhờ đến những loại thuốc khác nhau để làm thuyên giảm các bệnh nhân bị khó thở. Có thể kê đơn những thuốc giãn phế quản mà những loại mới nhất chỉ cần dùng một lần mỗi ngày. Khi chức năng hô hấp bị giảm hơn 50%, liệu pháp corticoide dạng hít có thể được dự kiến, nhưng nó chỉ làm thuyên giảm một phần và chỉ nơi vài bệnh nhân. Sau cùng, khi căn bệnh đã tiến triển thành khí phế thủng, phá hủy các lá phổi, cần thiết một sự hỗ trợ hô hấp bằng thông khí hay oxy liệu pháp.
OMS đánh giá rằng BPCO có thể trở thành nguyên nhân thứ ba gây tử vong trên thế giới vào năm 2020, trước cả ung thư phổi. Theo cùng những dữ kiện, những biện pháp chống lại nhiễm độc thuốc lá sẽ làm tỷ lệ này hạ xuống vào hàng thứ tư năm 2030. Một mục tiêu và sự ý thức và biện pháp phòng ngừa hẳn cho phép đạt được nhanh hơn nhiều.
(LE FIGARO 28/2/2011)
Đọc thêm :
TSYH số 177, bài số 3

2/ BPCO : SỰ THÀNH CÔNG CỦA PHẪU THUẬT DỰA TRÊN SỰ CHỌN LỌC.
“ Ngoại khoa làm giảm thể tích (chirurgie de réduction de volume) có thể, nơi vài bệnh nhân được chọn lọc tốt, mang lại một sự cải thiện ngoạn mục ”, BS Gabriel Thabut, thầy thuốc chuyên khoa phổi thuộc bệnh viện Bichat (Paris), đã đánh giá như vậy. Nơi những bệnh nhân bị những thể nặng của BPCO, không khí bị kẹt trong hai lá phổi, có thể bị căng trướng làm biến dạng lồng ngực của các bệnh nhân. Can thiệp nhằm lấy đi các phần của phổi bị hư hại nhất bởi khí phế thủng (emphysème), điều này đặc biệt cho phép cơ hoành lấy lại vai trò piston trong quá trình hô hấp. Sự lưu thông khí hiệu quả hơn, sự khó thở giảm bớt và những tham số tim mạch khác nhau cũng được cải thiện.
“ Loại ngoại khoa này được thực hiện ở Pháp từ mười năm nay, nhưng một công trình rộng lớn của Hoa kỳ đã cho những kết quả làm thất vọng, làm giảm đột ngột sự quan tâm đối với phương pháp này, BS Thabut đã chỉ rõ như vậy. Tuy nhiên nó có thể mang lại một lợi ích thật sự nơi vài bệnh nhân và phải tiếp tục gởi các bệnh nhân khí phế thủng đến các kíp có năng lực để đánh giá lợi ích của nó. ”
Sự làm giảm thể tích bằng phẫu thuật trước hết có thể được thực hiện trên chỉ một lá phổi bởi vì những hậu quả của phẫu thuật nặng nề này hoàn toàn không thể tiên đoán được. Những kỹ thuật bằng nội soi đã được phát triển trong những năm qua để làm giảm các nguy cơ đối với vài bệnh nhân có sức khỏe kém. Kỹ thuật nhằm đặt các bouchon trong các phế quản của các vùng bị bệnh của phổi. Khi đó các vùng này có thể được xả hơi. Các kết quả có lợi của phẫu thuật làm giảm thể tích kéo dài từ 5 đến 7 năm, vì lẽ phẫu thuật không điều trị khí phế thủng, và một can thiệp lên lá phổi thứ hai sau đó đôi khi được dự kiến. Ở Pháp, phẫu thuật này chỉ được thực hiện cho vài trăm bệnh nhân mỗi năm.
Điều trị chữa lành duy nhất của BPCO là ghép phổi (transplantation pulmonaire), bằng cách thay thế các lá phổi bị thương tổn, mang lại hoàn toàn chức năng hô hấp cho các bệnh nhân. Trái với phẫu thuật làm giảm thể tích (chirurgie de réduction de volume), ghép phổi có thể được chỉ định cho những bệnh nhân không bị khí phế thủng nhưng những tiêu chuẩn lựa chọn rất là nghiêm ngặt. Ghép phổi chỉ được đề nghị cho những bệnh nhân dưới 65 tuổi, đã được điều trị bởi oxy liệu pháp, khó thở khi bước lên nhiều bậc của cầu thang và không có bệnh quan trọng liên kết với BPCO. Sự ngừng hút thuốc cũng là một điều kiện cần thiết.
“ Những tiêu chuẩn này lại càng phải nghiêm ngặt nhất là khi chúng ta thiếu cơ quan để ghép mặc dầu đó là kỹ thuật duy nhất cho phép điều trị BPCO” , BS Thabut lấy làm tiếc như vậy. Ở Pháp, 250 trường hợp ghép phổi được thực hiện mỗi năm, trong đó một nửa nơi những bệnh nhân bị BPCO. Sẽ phải cần 400 trường hợp ghép phổi.
(LE FIGARO 28/2/2011)

3/ THUỐC LÁ : Ý CHÍ NGỪNG HÚT ĐỌC ĐƯỢC TRONG NÃO BỘ.
Bạn có thật sự muốn ngừng hút hay không ? Chú ý, chỉ trả lời là không không còn đủ nữa… Bởi vì một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ vừa cho thấy rằng quyết tâm không hút thuốc nữa cũng được đo lường bằng chụp hình ảnh não bộ. Thật vậy, đó là kết luận chính của một công trình nghiên cứu được tài trợ bởi National Institute of Health và được công bố trong Health Psychology. Công trình này đã được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu của đại học Californie nơi 28 người hút thuốc nặng, tham dự vào một chương trình cai thuốc lá không như những chương trình khác. Các nhà nghiên cứu đã yêu cầu những người nghiện thuốc lá này xem những thông điệp khác nhau về lợi ích của việc ngừng thuốc lá, đồng thời bắt họ chịu những thăm khám chụp hình ảnh não bộ nhưng chỉ lưu ý đặc biệt đến một vùng não bộ, vỏ não trước trán giữa (CPFM : cortex préfrontal médian), liên quan đến những biến đổi của hành vi. Sau mỗi lần thông điệp ngừng hút thuốc được phát ra, mỗi người tham dự phải, bằng những bảng câu hỏi, tự đánh giá quyết tâm ngừng hút thuốc của mình. Một cách song hành, sự tiêu thụ thuốc lá của những người tham gia đã được đo với thể tích của CO thở ra trước và sau khi bắt đầu công trình nghiên cứu. Kết quả : Hoạt tính neurone của vùng CPM mạnh hơn nơi những người đã thu giảm rõ rệt sự tiêu thụ của họ, trong 30 ngày sau khi bắt đầu công trình nghiên cứu. Và các tác giả kết luận và đề nghị rằng chụp hình ảnh thần kinh (neuro-imagerie) được sử dụng bổ sung trong những thực hành cai thuốc lá để tiên đoán tốt hơn hành vi của bệnh nhân.
(SCIENCES ET AVENIR 3/2011)

4/ ĐIỀU GÌ XẢY RA TRONG NÃO BỘ KHI NGƯỜI TA YÊU NHAU ?
Professeur Jean-Didier Vincent
Membre de l’Académie nationale de médecine

Thật là đúng điệu khi đối tình yêu (amour), thuộc về phạm trù tình cảm, với tình dục (sexe), được quy vào động tác xác thịt (acte charnel). Thuyết nhị nguyên (dualisme) này không ổn. Tình yêu luôn luôn là một vấn đề ham muốn xác thịt (désir) và sự ham muốn này luôn luôn có vị trí của nó trong não bộ. Chúng ta cảm thấy trước khi hành động và xúc cảm (affect) phát xuất từ thân thể đi trước hành động, bị thôi thúc bởi sức mạnh cấp thiết của lòng ham muốn. Như vậy, không phải trong trái tim, chỉ là một kẻ thừa hành, mà tình yêu (có nghĩa là tình dục) được thực hiện, nhưng ở trong cái cơ quan, là nơi các cảm giác và các quyết định được tập hợp : não bộ. Chính một não bộ mà những người yêu nhau khắc vào vỏ của cây chứ không phải khắc vào tim. Cũng chính ở não bộ nảy sinh ra khoái lạc nhưng cũng sự đau khổ, là những kẻ a tòng của lòng ham muốn.
Tất cả xảy ra trong phần thấp của não bộ, một vùng có hình cái phễu mà ta gọi là vùng dưới đồi (hypothalamus) ; vùng dưới đồi có kích thước khoảng một móng tay và tập hợp trong nó những trung tâm chỉ huy các chức năng lớn của cơ thể : sinh sản, điều hòa sự ăn uống và cảm giác khát, kiểm soát thể trọng, duy trì hằng định nhiệt độ của cơ thể và sau cùng là giấc ngủ. Ngoài ra, vùng dưới đồi thị được đi xuyên qua bởi những đường thần kinh phụ trách về khoái lạc và đau khổ, những hệ thống làm nảy sinh lòng ham muốn và duy trì cảm giác này. Tóm lại, trong cái tầng hầm (cave) này của não bộ hiện diện tất cả những gì cần thiết để duy trì sự sống.
Vùng dưới đồi không những là cái khoảng không gian nhỏ hẹp trong đó chen chúc những trung tâm thần kinh phụ trách những chức năng nổi tiếng này : đó cũng là một tuyến những sản phẩm được tiết ra được đỗ vào trong tuần hoàn máu dành để tưới não thùy (hypophyse), tuyến quan trọng bởi vì nó điều khiển tất cả các tuyến khác nhờ các kích thích tố của nó được gọi là stimuline. Đến lượt các chất stimuline này lại điều khiển sự tiết của các kích thích tố sinh dục. Chuỗi các bộ chỉ huy này giống với quân đội, với vị tướng lãnh là vùng dưới đồi , các sĩ quan là não thùy và các binh lính là những cơ quan sinh dục. Ngược lại, các hormone tác dụng lên các tế bào phát ra kích thích tố để kềm hãm chúng hay để kích thích chúng, đó là điều ta gọi là những tác dụng phản hồi (feedbacks).
Vào lúc dậy thì có một tín hiệu hóa học trong vùng dưới đồi làm phát khởi một cơn bão hormone. Ngày nay ta biết rằng đó là một phân tử peptide (một protéine nhỏ), kisspeptide, làm gia tăng nhịp tiết lulibérine, đến lượt hormone này lại gây nên sự phóng thích ồ ạt của các kích thích tố sinh dục (progestéone và oestradiol nơi phụ nữ, testostérone nơi đàn ông), làm cho những người trẻ có khả năng sinh sản. Còn về kiss-peptide, một kích thích tố của cơ thể, được tiết ra bởi các tế bào mỡ, leptine, làm phát động sự tiết của hormone này. Điều đó giải thích tại sao tuổi dậy thì được liên kết với khối lượng mỡ (masse graisseuse). Ta quan sát thấy rằng những cô thiếu nữ hơi đẫy đà vốn đã có kinh nguyệt trước đó. Đồng hồ kiểm soát các hormone sinh dục đúng là phức tạp thật !
CÁC HỆ HAM MUỒN (SYSTEMES DESURANTS)
Chính trong vùng dưới đồi và những vùng kế cận của não bộ mà bản nhạc ham muốn tình dục (la musique du désir sexuel) được chấp hành. Các nhạc sĩ (các trung tâm) được đặt chung quanh và phía trước não thất ba (troisième ventricule), một khoảng được chiếm bởi dịch, thông thương với hai não thất bên nằm trong mỗi bán cầu đại não : một mạng rộng lớn các vũng nước cho phép sự khuếch tán của đủ loại chất, muối và kích thích tố, trong lòng của não bộ.
Tôi nhắc lại rằng vùng dưới đồi này cũng là nơi dùng để ăn, uống và ngủ, bấy nhiêu hoạt động không xa lạ gì với tình dục. Trong não bộ của hai giới tính, những trung tâm điều khiển hành vi nam (centre du comportement male) cùng hiện hữu với những trung tâm điều khiển hành vi nữ (centre du comportement femelle). Vùng trước-lưng (aire antéro-dorsale), nằm phía trước vùng dưới đồi, đóng một vai trò kiểm soát hành vi nam giới. Trung tâm này nhận các thông tin phát xuất từ tất cả mọi loại cảm giác ; nó hội nhập tất cả các cảm giác, góp phần vào việc duy trì ngọn lửa của lòng ham muốn và làm phát khởi giai đoạn tiền giao cấu (phase précopulatoire). Sau đó nó đảm bảo sự theo đuổi của động tác giao cấu nói riêng.
Dopamine là chất trung gian thần kinh (neuromédiateur) chính có liên hệ trong sự hoạt hóa của trung tâm. Dopamine chuyên trách về tính dục phát xuất từ các neurone nằm kế cận trung tâm điều khiển hành vi nam (centre mâle). Dopamine này khác với dopamine có liên hệ trong các hệ ham muốn chung (systèmes désiarants généraux), hệ này đi khắp vùng đáy não và tưới vỏ não. Hệ dopamine đặc hiệu này giải thích tại sao sự ham muốn tình dục (désir sexuel) tương đối đứng riêng trong số những người bạn đồng hành khoái lạc (compagnons de plaisirs) của nó. Một trong những lý do giải thích tính độc lập này có thể là vai trò của nó trong quá trình tiến hóa của loài (évolution des espèces) và sự cần thiết phải bảo vệ nó nhờ một chế độ đặc biệt. Trung tâm này không tác động riêng rẻ, nhưng liên hệ mật thiết với những vùng kiểm soát sự vận động và đặc biệt là những tư thế tình dục (postures sexuelles) ; cũng có liên hệ là những vùng can thiệp vào trí nhớ (ở người đàn ông, yêu, đó thường là hồi tưởng : aimer c’est se souvenir) và những cảm xúc. Nói vắn tắt, tất cả những gì mang lại một ý nghĩa cho tình yêu, ngoài sự cần thiết sinh sản đơn thuần đối với loài. Trung tâm này cũng có những nối kết đặc biệt với khứu giác, có vai trò thiết yếu trong sự gặp gỡ yêu đương (rencontre amoureuse).
Vùng bụng và trong (région ventrale et médiane) của vùng dưới đồi có liên quan trong hành vi tình dục nữ (comportement sexuel femelle), nhưng một cách không chuyên nhất. Vùng này cũng tham gia vào việc kiểm soát hành vi ăn uống (comportement alimentaire) và, một cách tổng quát hơn, vào khía cạnh âm tính và đau đớn của hành vi động vật. Việc đưa oestradiol vào trong cấu trúc này nơi một con vật cái bị thiến, điều chỉnh sự đánh mất hành vi tình dục (comportement sexuel) xảy ra sau khi cắt bỏ các buồng trứng. Nhưng phải ghi nhận rằng việc đưa oestradiol trong nhân (noyau) này nơi con chuột đực bị thiến khiến nó giữ một tư thế tình dục nữ (posture sexuelle femelle). Cũng phải xét đến các endorphine, chống lại sự đau đớn gây nên nơi con cái do động tắc giao hợp. Sứ mạng thiết yếu của những trung tâm sinh dục (centre sexuel) sự kiểm soát cơ học của bản năng tình dục, được phát động nơi tủy sống bởi những kích thích của bộ phận sinh dục (stimulations génitales). Những kích thích này, chịu ảnh hưởng trực tiếp của những kích thích tố sinh dục (động đực, nhiệt), đủ để khởi động sự diễn biến của động tác giao hợp nơi một động vật cái.
Những dữ kiện này dĩ nhiên liên quan đến động vật, chủ yếu là những động vật gặm nhấm được dùng làm mô hình động vật. Cũng những trung tâm này hoạt động nơi người, nhưng những vùng sinh dục nằm dưới sự kiểm soát nghiêm khắc của những tầng cao của não bộ : tình yêu không phải là một phản xạ. Ham muốn xác thịt nằm trong đầu chứ không phải ở vùng bụng dưới. Chính trong hai vùng nam và nữ của vùng dưới đồi mà sự hội nhập của các cảm giác, các động tác yêu đương, các cảm xúc, cùng nỗi âu lo, sẽ làm phát khởi hay ức chế động tác giao hợp nói riêng. Như ta đã thấy, trung tâm nam và nữ cùng hiện hữu trong não bộ và trong suốt cả cuộc đời của con người. Ta có thể tưởng tượng rằng hai trung tâm này tạo thành các đĩa (plaeau) của một cái cán (balance) mà đòn cân (fléau) chỉ định hướng tình dục của cá thể, nghĩa là bị lôi cuốn đến một người bạn đường nam hay nữ : dị tính luyến ái (hétérosexuel) hay đồng tính luyến ái (homosexuel).
Bây giờ chúng ta xem xét điều gì xảy ra trong não bộ và thân thể khi hai tình nhân giao cấu. Một kích thích tố, được tiết ra bởi những tế bào thần kinh to lớn của vùng dưới đồi, ocytocine, được phóng thích vào trong não bộ, đáp ứng lại với những kích thích ở bộ phận sinh dục. Sự tiết ocytocine này đi kèm theo sự dâng lên mạnh mẽ của lòng ham muốn/cảm giác khoái lạc(désir/plaisir), đồng thời gây nên một sự khuếch đại của các hệ dopamine. Được đổ vào trong máu bởi não thùy, ocytocine làm gia tăng những co thắt nhịp nhàng của các cơ sinh dục, làm khuếch đại trở lại sự phóng thích ra nó, một phản xạ góp phần làm cho hệ dopamine lồng lên cho đến khi đạt được cảm giác khoái lạc cực độ (orgasme). Cảm giác khoái lạc này xảy ra trong não bộ và cơ quan này quản lý sự khoái lạc và phối hợp những biểu hiện thực thể.
CÁC LỜI NÓI VÀ CÁC PHÂN TỬ
Một sự giảm đau mạnh phong bế tính chất đau đớn của các kích thích cơ học dữ dội mà động tác giao hợp gây ra ; sự giảm đau làm biến mất sự đau đớn để cho sự khoái lạc được thể hiện một cách tự do. Người đàn ông và người đàn bà, trong một phút chốc, kết hợp bản thể lại với nhau. Ocytocine khộng chỉ được giới hạn vào vai trò sinh ra khoái lạc cực độ. Được phóng thích vào trong máu lúc cho bú, nó cho phép phóng sửa khi em bé mút núm vú. Được phóng thích vào trong não bộ, oxytocine làm dễ sự quyến luyến của hai người yêu nhau, điều này khiến người ta gọi nó một cách lạm dụng là kích thích tố của lòng chung thủy (hormmone de la fidélité). Ocytocine cũng đóng một vai trò quan trọng trong hành vi làm mẹ (comportement maternel).
Để kết luận, tình yêu nơi con người về phương diên vật lý không khác bao nhiêu với điều ta có thể quan sát nơi động vật ; ngược lại nó được làm phong phú với những năng lực tâm thần và đạo đức của loài. Động vật làm tình nhưng không nói (l’animal fait l’amour, mais n’en parle pas) ; con người sống qua tình yêu và kể lại điều đó (l’humain vit l’amour et le raconte). Những lời nói yêu đương (discours amoureux) là một bộ phận của động tác giao hợp (acte sexuel), dầu động tác này được thực hiện trong thực tế hay trong giấc mơ. Con người không chỉ làm tình, mà còn nói về điều đó đến độ đôi khi động tác giao hợp biến mất nhường bước cho câu chuyện tình (roman d’amour) mà đôi cặp tình nhân đang sống. Ở các vùng não bộ dành cho ngôn ngữ và trí tưởng tượng, khi đó không còn là những phân tử hóa học nữa mà là những chữ, mà chữ đẹp nhất là động từ “ yêu ”.
(LE FIGARO 21/2/2011)

5/ CUỘC TRANH CÃI VỀ CÁC TÁC DỤNG CÓ LỢI CỦA RƯỢU LẠI ĐƯỢC PHÁT ĐỘNG TRỞ LẠI.
Với liều lượng thấp, nguy cơ tim giảm. Nhưng thông điệp này có tính chất đánh lừa bởi vì được hiểu như một lời khuyến khích uống rượu.
SANTE PUBLIQUE. Một công trình nghiên cứu mới về các mối liên hệ giữa việc tiêu thụ rượu và các nguy cơ y tế hẳn sẽ phát động trở lại cuộc tranh luận, vì lẽ chủ đề này gây tranh cãi trong một đất nước như đất nước của chúng ta, vốn truyền thống ưa chuộng rượu vang. Thật vậy, bài báo này, được công bố hôm thứ tư trong British Medical Journal (BMJ), đã kết luận rằng những người tiêu thụ rượu mức độ vừa phải có ít nguy cơ bị một bệnh tim mạch hơn so với những người không uống rượu chút nào. Theo các nhà nghiên cứu Canada của đại học Calgary, lượng tương đương với một ly rượu vang mỗi ngày đối với một phụ nữ (hoặc 15 g cồn) và hai ly (30g) đối với một người đàn ông, là tốt cho sức khỏe và làm gia tăng một cách đáng kể nồng độ cholestréol tốt, điều này có một tác dụng bảo vệ chống lại các bệnh tim. Trong khung cảnh của sự tiêu thụ có mức độ này, tỷ lệ giảm các nguy cơ tử vong nguồn gốc tim biến thiên từ 14 đến 25%. Nhưng, các tác giả bài báo cảnh giác, những kết quả này không phải là một lời xui khiến hãy bắt đầu uống rượu.
“ Công trình nghiên cứu này, nhằm so sánh những nguy cơ tim mạch nơi những người uống rượu và những người không uống, đã kết luận rằng một sự tiêu thụ có mức độ được liên kết với một sự giảm nguy cơ mắc phải nhiều bệnh tim mạch. Bất hạnh thay, công trình nghiên cứu này thật sự không xét đến liều lượng alcool, thế mà các nguy cơ tim mạch được khảo sát lại phụ thuộc nhiều liều lượng này, Catherine Hill, chuyên gia dịch tễ học của Viện Gustave- Roussy và chuyên gia lớn về các mối liên hệ giữa ung thư và rượu, đã nêu lên như vậy. Đối với một vài bệnh tim mạch, như nhồi máu cơ tim, đường cong hình chữ J, có nghĩa là rượu với liều lượng có mức độ có một tác dụng bảo vệ trên các căn bệnh này. Nguy cơ hơi thấp hơn nơi những người uống một ít rượu so với những người kiêng khem. Nhưng sau đó nguy cơ gia tăng và vượt quá, với những liều cao nhất, nguy cơ của những người kiêng uống rượu.” Đối với những bệnh tim mạch khác, như loạn nhịp tim (và cũng đối với những ung thư liên kết với rượu), các nguy cơ gia tăng một cách đều đặn với liều lượng và điều này ngay cả với những liều thấp nhất.
Đối với chuyên gia này, ý tưởng một sự tiêu thụ có mức độ có một tác dụng bảo vệ về mặt y tế là “ một thông điệp hoàn toàn đánh lừa ”.
LES LOBBYS DE L’ALCOOL.
Ngay cả khái niệm tiêu thụ “ có chừng mực ” cũng hàm ý một nhận thức chủ quan. Ví dụ phần lớn dân chúng Pháp xem việc tiêu thụ của họ là có mức độ. Nhưng những người 15 tuổi hoặc hơn uống trung bình 2,7 ly mỗi ngày, điều này muốn nói rằng phần lớn những người uống rượu đều đặn uống hơn 3 ly mỗi ngày. Thế mà với liều lượng đó, rượu chỉ có những tác dụng có hại. Với hai ly, những tác dụng có lợi bị hủy bỏ bởi những tác dụng có hại. “ Trong những tình trạng tiêu thụ này, thông điệp hãy uống có mức độ có tính chất làm an lòng đối với dân chúng, có thể được chấp nhận bởi các lobbys de l’alcool, nhưng tai hoa đối với y tế cộng đồng. Thông điệp đúng là thông điệp nói rằng hãy uống ít hơn ”, Catherine Hill đã tóm tắt như vậy.
Thông điệp cho rằng một sự tiêu thụ có mức độ bảo vệ chống lại các nguy cơ tim mạch có thể hơi hợp lý ở Canada, nơi đây dân chúng uống trung bình mỗi ngày 1,7 ly đồ uống có chất cồn đối với mỗi người trưởng thành 15 tuổi hoặc hơn. Một ly chứa 10 g alcool tương đương 10 cl rượu vang 12,5 độ hay 25 cl bia 5 độ hay 6 cl Porto 20 độ hay 3 cl whisky 40 độ. Nhưng không có định nghĩa duy nhất cho một “ ly chuẩn ”. Do đó mọi lời khuyến nghị về số ly uống là nguồn gốc gây ngộ nhận. Chỉ cần tăng cỡ của ly uống hay gia tăng nồng độ alcool của đồ uống cũng đủ làm gia tăng liều lượng.
(LE FIGARO 25/2/2011)

6/ VACCIN BILIE DE CALMETTE ET GUERIN.
Vô ích phải giới thiệu BCG, vaccin chống bệnh lao, mà sự khám phá chủ yếu thuộc về Albert Calmette và trưởng phòng xét nghiệm, thầy thuốc thú y Calmille Guérin. Chữ “ B ” phát xuất từ “ bilié ” bởi vì giống gốc vi khuẩn được làm giảm độc lực trong môi trường cấy giàu mật. Một câu chuyện với những thăng trầm.
Sinh ở Nice năm 1863, Albert Calmette phải theo cha trong những lần thuyên chuyển do sự đòi hỏi của chức vụ tỉnh trưởng mà cha ông đảm nhiệm. Vài năm ở Bretagne mang lại cho ông lòng yêu biển cả và khiến ông ghi tên vào trường hàng hải (Ecole navale). Nhưng bệnh sốt chấy rận (typhus) buộc ông phải từ bỏ quân đội nhưng, vì không thể quên được đại dương, nên ông chọn Trường y khoa hải quân (Ecole de médecine navale) ở Brest. Là nhân viên của ty y tế, ông tham gia nhiều chiến dịch quân sự. Ở tuổi 20, ông đóng quân ở Hồng-Kông, ở đây ông cộng tác trong các nghiên cứu về bệnh sốt rét và các loại muỗi. Thế là Calmette bị làm say mê bởi các bệnh do ký sinh trùng và, với văn bằng tốt nghiệp trong tay lúc 23 tuổi, ông lên đường đi Tây Phi, nơi đây ông nghiên cứu không những bệnh sốt rét mà còn cả bệnh gây ngủ (maladie du sommeil) nữa. Vào năm 27 tuổi ông trở lại Paris, quyết định theo ngành vi trùng học dưới sự chỉ đạo của Viện Pasteur và người đồng sáng lập, giáo sư Roux. Ông được giao sứ mạng sử dụng những vaccin rất mới chống lại bệnh dại và bệnh đậu mùa cho dân Saigon. Tại Saigon, ông lợi dung thời gian rảnh để làm quen với các nọc độc (venin) và những chất độc khác như curare. Bị bệnh lý, ông trở về lại Pháp, ở đây ông phát triển một huyết thanh chống nọc độc rắn (sérum anti-venin de serpent)mang tên ông và tham gia vào sự chế tạo huyết thanh chống bệnh dịch hạch (sérum antipesteux).
THEO VẾT CHÂN CỦA PASTEUR.
Emile Roux giao cho Albert Calmette làm giám đốc Viện Pasteur Lille khi ông chỉ mới 32 tuoi. Ở đó ông sẽ phục vụ nghề nghiệp trong suốt 1/4 thế kỷ, mặc dầu ông vẫn có những chuyen công tác ra nước ngoài. Thí dụ ở Portugal, ông điều hành những điều trị vào lúc xảy ra một trận dịch hạch thể xoài (peste bubonique). Tuy nhiên ở Pháp và ngay cả ở thành phố Lille chính bệnh lao làm ông lo ngại. Ông thành lập một bệnh xá (dispensaire sanitaire) chống lao và cho xây dựng trạm lọc nước đã dùng đầu tiên. Ông lãnh đạo bộ môn vệ sinh học và bỏ nhiều công sức để truyền bá những khái niệm rất mới về sự dự phòng bằng biện pháp sạch sẽ. Đồng thời, ông mơ tưởng về một vaccin, vì lẽ tuberculine mà Koch đề nghị không mang lại kết quả mong muốn. Vào năm 1906, trực khuẩn Koch sẽ làm cho Calmette và Camille Guréin xích lại gần nhau. Thầy thuốc thú y Guérin khám phá rằng trâu bò đề kháng với bệnh lao thật ra lại mang các trực khuẩn sống trong máu. Và giả sử ta có thể tiêm chủng với những liều lượng nhỏ, theo phương pháp của Pasteur ? Calmette chỉ mới bắt đầu những thí nghiệm, và cho thấy rằng các trực khuẩn lão đánh mất tính độc lực khi được cấy trên một chất nền (substrat) chứa mật bò (một ý tưởng phát xuất từ một thầy thuốc người Na Uy). Công cuộc khám phá được công bố năm 1908 khi nhà nghiên cứu được 45 tuổi. Calmette và Guérin sau đó hợp sức lại để sản xuất những canh cấy ngày càng phức tạp, được làm giảm độc lực và sinh miễn dịch. Các công trình của họ kéo dài 13 năm !
CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH.
Ngày 16 tháng ba năm 1914, Henriette Caillaux giết chết Gaston Calmette, giám đốc của Figaro và là anh của Albert Calmette. Cuộc ám sát này, tiếp theo sau bởi cuộc ám sát của Archiduc Ferdinand ở Sarajevo và Jean Jaurès ở Paris, đã lôi kéo châu Âu vào Đệ Nhất Thế Chiến. Trong thời gian Lille bị chiếm đóng, Calmette vẫn tiếp tục chế tạo các huyết thanh và vaccin cần thiết cho dân chúng. Vào năm 1918, vợ ông và nhiều phụ nữ khác của thành phố Lille bị quân Đức giữ làm con tin. Sau giải phóng các công trình lại tiếp tục, và vào năm 1921, sự tiêm chủng đầu tiên được thực hiện trên các trẻ sơ sinh của Hôpital de la Charité ở Paris. Mặc dầu sự thành công này, một tai họa xảy ra ở Đức năm 1930, được biết dưới tên “ Tai họa Lubeck ”. Hơn 70 trẻ em (28%) được tiêm chủng bằng một giống gốc được bào chế tại chỗ, đã chết vì bệnh lao. Các nhà vi trùng học ngươi Đức, mặc dầu khám phá là do sự lơ là trong lúc pha chế đã dẫn đến độc lực của các liều vaccin, nhưng Calmette vô cùng choáng váng bởi thảm họa này. Phương pháp được phục quyền hai năm sau, nhưng Albert Calmette qua đời ít lâu sau đó, lúc ông được 70 tuổi. Ông sẽ không được thấy sự phát triển của những chương trình tiêm chủng đại trà gần như khắp nơi trên thế giới, ở Nhật Bản cũng như ở Canada, Nga hay Trung Hoa. Hoa Kỳ chỉ theo chương trình này năm 1956 và vẫn còn ớn lạnh về vấn đề tai biến, cũng như ở Bỉ vậy.
(LE GENERALISTE 3/3/2011)

7/ NHỮNG CƠ THIÊN ĐẦU THỐNG LIÊN TIẾP KHÔNG ẢNH HƯỞNG CÁC CHỨC NĂNG NHẬN THỨC CỦA NÃO BỘ.
Tin làm an lòng : những cơn thiên đầu thống lập lại không dẫn để sự suy đồi cua chuc nang nhận thức (fonction cognitive). Và điều này, mặc dầu có những thương tổn rất bé nhỏ mà chúng gây ra trong não bộ và có thể nhìn thấy được với IRM. “ Loại thương tổn này rất thường xảy ra noi những người già, Christophe Tzourio, giám đốc của đơn vị dịch tễ học thần kinh (neuroépidémiologie) của Inserm (Paris) đã giải thích như vậy. Những thương tổn này là một bộ phận của quá trình lão hóa của não bộ. Vài công trình nghiên cứu khiến nghĩ rằng nếu những thương tổn này trở nên nhiều, chúng có thể làm gia tốc sự lão hóa. Do đó người ta sợ rằng những người bị bệnh thiên đầu thông chịu một sự lão hóa sớm. Từ nay ta biết rằng không đúng như vậy. ” Để đạt được những kết luận làm an lòng này, các nhà khoa học đã phân tích bệnh sử và các kết quả IRM của 780 bệnh nhân, tuổi trung bình 68 tuổi. “ Những người đã bị các cơn thiên đầu thống thật vậy có nhiều thương tổn nào hơn những người khac, nhưng sau khi đã thực hiện nơi họ những trắc nghiệm về nhận thức (tests cognitifs), chúng tôi đã chứng thực rằng họ có cùng những kết quả như những người không bị thiên đầu thống ”, Christophe Tzourio đã kết luận như vậy.
(SCIENCE ET VIE 3/2011)

8/ CÁC BỆNH TIM-MẠCH : ĐỂ PHÁT HIỆN SỚM.
BS François Philippe, thầy thuốc chuyên khoa tim, thuộc Institut mutualiste Montsouris, phê bình những lợi ích của rosuvastatine nơi những bệnh nhân có nguy cơ cao không được nghi ngờ.
Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những yếu tố nguy cơ của các bệnh tim mạch ,
BS François Philippe. Có 4 yếu tố quan trọng mà ta có thể tác động vào : chứng nghiện thuốc lá, cao huyết áp, tăng cholestérol-huyết và bệnh đái đường. 3 yếu tố khác hiện diện nhưng bất hạnh thay ta không thể biến đổi : di truyền, tuổi tác và giới tính (người đàn ông dễ bị hơn phụ nữ, được bảo vệ cho đến thời kỳ mãn kinh bởi các hormone)
Hỏi : Những hậu quả của những yếu tố này là gì ?
BS François Philippe. Qua nhiều năm tháng, chúng làm dễ những lắng đọng mỡ (cholestérol) trên các thành của các động mạch của tim và của não bộ . Những lắng đọng này (các mảng xơ mỡ) có thể tiến triển bằng hai cách. 1. Bằng cách làm hẹp dần dần lỗ của các động mạch. 2. Bằng cách bít động mạch trong vài phút với một cục máu đông do vỡ mảng xơ mỡ. Do đó các hậu quả : nhồi máu cơ tim (150.000 trường hợp mỗi năm ở Pháp) và tai biến mạch máu não (200.000 trường hợp), có thể gây nên tử vong hay phế tật.
Hỏi : Những triệu chứng nào phải báo động ?
BS François Philippe. Bất hạnh thay không luôn luôn có những dấu hiệu báo động và than ôi chính tai biến làm phát hiện cơn bệnh. Tuy nhiên, ba triệu chứng khiến phải đi đến thầy thuốc : một cơn đau ngực (nhất là liên kết với sự gắng sức), những rối loạn tạm thời của lời nói hay của vận động của một chi.
Hỏi : Làm sao nhận diện những người có vẻ mạnh khỏe nhưng có nguy cơ cao ?
BS François Philippe. Thật vậy những người đàn ông trên 50 tuổi và những phụ nữ trên 60 tuổi phải tự đặt cho mình câu hỏi. Phương pháp là tính nguy cơ này theo một thang đặc hiệu (điểm số Framingham), xét đến nồng độ cholestérol, mức huyết áp, chứng nghiện thuốc lá, giới tính và sự hiện diện hay không của bệnh đái đường. Kết quả chỉ xác suất bị nhồi máu cơ tim hay một tai biến mạch máu não sau 10 năm. Sự điều tra phát hiện này phải được thực hiện một cách hệ thống trong những lứa tuổi này.
Hỏi : Ngoài phương pháp quy uớc này, có một trắc nghiệm phát hiện mới hay không ?
BS François Philippe. Từ những năm qua, ở Hoa Kỳ người ta thực hiện thường xuyên định lượng nồng độ trong máu của một protéine (CRP hypersensible), một chất chỉ dấu chỉ sự hiện diện của một hiện tương viêm mà mức độ liên quan với mức độ của nguy cơ tim mạch. Tại sao ? Bởi vì các lắng đọng cholestérol được làm dễ bời quá trình viêm, sự viêm này dường như đóng một vai trò quan trọng trong sự vỡ của một mảng xơ mỡ. Như thế, trong những bệnh khớp viêm mãn tính, nguy cơ nhồi máu cao hơn. Vậy những bệnh nhân với một nồng độ cholestréol bình thường dầu vậy vẫn có thể là những người có nguy cơ cao.
Hỏi : Một công trình nghiên cứu quốc tế vừa phân tích tính hữu ích của một phòng ngừa với loại những bệnh nhân này. Protocole là gì ?
BS François Philippe. Công trình nghiên cứu này đã được thực hiện trên 15.000 người (những người đàn ông trên 50 tuổi và đàn bà trên 60), có một nồng độ cholestérol bình thường nhưng một nồng độ CRP tăng cao. Nhũng người tham gia được chia thành hai nhóm : một nhóm đã nhận, trong mục đích phòng ngừa, một loại thuốc làm giảm cholestérol, rosuvastatine, và nhóm kia một placebo. Kết quả : sau hai năm, nhóm được điều trị với statine có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não giảm hơn 50%. Và lợi ích này quan trọng đến độ công trình nghiên cứu đáng lý ra kéo dài 5 năm đã được ngừng lại.
Hỏi : Trong thực tiễn những hậu quả của các kết quả này là gì ?
BS François Philippe. 1. Đối với các thầy thuốc, họ không còn có thể chỉ căn cứ trên nồng độ cua cholestérol để xác lập sự hiện diện của nguy cơ. 2. Rosuvastatine đã tỏ ra đặc biệt hiệu quả để phòng ngừa nhồi máu và các tai biến mạch máu não nơi những người có nguy cơ cao. 3.Việc đánh giá, như ở Hoa Kỳ, nồng độ của CRP hypersensible nơi những người dàn ông trên 50 tuổi và những phụ nữ trên 60 tuổi, là điều đáng quan tâm.
(PARIS MATCH 24/2 – 2/3/2011)

9/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT ĐƯỢC PHÁT HIỆN BỞI MỘT CON CHÓ.
Rintintin à la rescousse ! Điều đó có thể có vẻ gây ngạc nhiên nhưng tài đánh hơi của con chó sẽ là công cụ tốt nhất mà các nhà nghiên cứu sử dụng để đạt tiến bộ trong sự phát hiện vài loại ung thư. Aspirant, một con chó berger malinois 2 tuổi rưởi là bằng cớ của công tác này. Chỉ được trang bị bởi một cái mũi, con chó này đã có khả năng phát hiện 30 bệnh nhân trên 33 qua các mẫu nghiệm nước tiểu, hoặc một tỷ lệ thành công 91%. So sánh với tỷ lệ của trắc nghiêm máu PSA được áp dụng hiện nay, chỉ đạt tối đa 20%.
Cần hai năm tập dược để huấn luyện Aspirant. Công trình nghiên cứu đã được đề nghị với quân đội Pháp bởi Olivier Cussenot, thầy thuốc chuyên khoa tiết niệu ở bệnh viện Tenon (Paris) và kíp của ông. Ngoại trừ thay vì các chất nổ, con vật được huấn luyện để nhận diện những loại bombe khác, âm ĩ hơn, những trái bom được khởi động trong tuyến tiền liệt khi vài tế bào trở nên ung thư. Trong tình trạng hiện nay, trắc nghiệm PSA (nhắm đích một protéine, PSA, được tiết bởi cơ quan lúc bị viêm) có thể gây nhầm lẩn đến độ một chương trình điều tra phát hiện đại trà không thể dự kiến được. Do só lợi ích của một trắc nghiệm đặc hiệu hơn. Các nhà nghiên cứu đã thu thập vài trăm phân tử có thể dùng làm trắc nghiệm trong nước tiểu của các bệnh nhân. Nhưng những phân tử nào là đáng lưu ý nhất ? Các phương pháp cổ điển cần nhiều thời gian để làm sáng tỏ điều đó. “ Tất cả lợi ích của phương thức này, Olivier Cussenot đã giải thích như vậy, là làm gia tốc sự nhận diện. Từ nay đến hai năm nữa, tôi nghĩ rằng Aspirant sẽ cho phép chúng tôi tìm ra nhiều phân tử dẫn đến sự hiệu chính của một trắc nghiệm tốt hơn nhiều.”
Càng ngày con chó càng tỏ ra quý giá trong lãnh vực ung thư học. Thật vậy, cùng lúc, một công trình nghiên cứu của Nhật, được đăng trong một ấn bản của British Medical Journal, ca ngợi các tài năng của một con chó librador, hiệu quả hơn nội soi đại tràng trong việc phát hiện ung thư đại-trực tràng trong các mẫu nghiệm phân của các bệnh nhân.
(SCIENCES ET AVENIR 3/2011)

10/ MEDIATOR : “ ĐÁNG LÝ RA PHẢI CÓ NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NGAY BÁO ĐỘNG ĐẦU TIÊN ”.
GS Lucien Abenhaim, chuyên gia được quốc tế công nhận về dịch tễ dược (pharmaco-épidémiologie), trở lại vụ thuốc Mediator của Hãng bào chế Servier.
SANTE. Chính sau một công trình nghiên cứu được công bố năm 1996 bởi GS Lucien Abenhalm trong New England Journal of Medicine mà Isoméride (dexfenfluramine) của hãng bào chế Servier, được kê đơn như là thuốc cắt đói (coupe-faim), đã bị cáo giác, cũng như những fenfluramine khác. Tất cả những thuốc của họ này đã được rút ra khỏi thị trường vào năm 1997. Ở Pháp, Mediator (benfluorex) của Servier, một dược phẩm có những tính chất tương tự với Isoméride, được kê đơn để điều trị bổ trợ (traitement adjuvant) bệnh đái đường, đã được thương mãi hóa cho đến tháng 11 năm 2009. Thuốc này đang ở tâm điểm của một cơn bão táp dữ dội, sau khi một điều tra của Cnam đã ước lượng ít nhất là 500 số trường hợp tử vong có thể quy cho dược phẩm này. Một công trình nghiên cứu khác báo cáo một nguy cơ được nhân lên 3 lần bị các thương tổn của các van tim sau hơn 3 tháng điều trị. Lucien Abenhaim, giáo sư ở London School of Hygiene & Tropical Medicine, cựu tổng giám đốc y tê, chủ tịch Laser Europe, văn phòng nghiên cứu chuyên về đánh giá các dược phẩm, trở lại vụ việc này
Hỏi : Tại sao Isoméride đã được rút ra khỏi thị trường năm 1997 ?
GS Lucien Abenhaim : Isoméride (có hoạt chất là dexfenfluramine) đã được thương mãi hóa trong những năm 1980 như là thuốc cắt đói (coupe-faim). Vào năm 1992, kíp của bệnh viện Antoine-Béclère de Clamart khám phá rằng nhiều bệnh nhân bị một bệnh rất nặng, cao huyết áp động mạch phổi (HTAP : hypertension artérielle pulmonaire) đã tiêu thụ dược phẩm này. Khi đó là giáo sư dịch tễ-dược học (pharmaco-épidémiologie) của Đại học McGill (Canada), tôi đã được khẩn khoản yêu cầu bởi hãng bào chế Servier, với sự đồng ý của Cơ quan quản lý dược phẩm Pháp, để thực hiện một điều tra dịch tễ quốc tế về vấn đề này. Những kết quả cuối cùng đã cho thấy rằng sự tiêu thụ lâu dài các fenfluramines đã nhân lên 20 lần nguy cơ bị tăng áp lực động mạch phổi (HTAP). Tức thời, những biện pháp hạn chế đã được áp dụng để giới hạn sự phổ biến của Isoméride và những fenfluramines khác ở Pháp và ở Châu âu.
Hỏi : Mặc đầu như vậy, tại sao các người Mỹ đã đưa thuốc Isoméride ra thị trường ?
GS Lucien Abenhaim : Mặc dầu công trình nghiên cứu của chúng tôi, Cơ quan quản lý thực và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), mà tôi đã trình bày những kết quả cua công trình này, đã quyết định đưa dược phẩm này ra thị trường với quảng cáo trực tiếp cho những người tiêu thụ ! Cơ quan FDA đã đánh giá rằng tỷ suất lợi ích/nguy cơ thuận lợi cho việc thương mại hóa vì lẽ dịch bệnh béo phì đang phát triển ở Hoa Kỳ. FDA đã bị ảnh hưởng bởi lời chứng của các chuyên gia, mà sau đó ta đã biết được rằng các chuyên gia này được tài trợ bởi những nhà chế tạo thuốc coupe-faim và họ đã viết một bài báo trong New England chỉ trích kịch liệt công trình nghiên cứu của chúng tôi ! Vài tháng sau đó, những trường hợp HTPA đầu tiên do dùng thuốc đã xuất hiện ở Hoa Kỳ. Mối lo ngại rất là dữ dội, các thầy thuốc Hoa Kỳ đã không ngớt đòi hỏi rút thuốc này ra khỏi thị trường, bởi vì 6 triệu ngươi Mỹ đã đổ xô mua những thuốc cắt đói (coupe-faim) tương tự..Do tình cờ, phải cần có một thầy thuốc ngoại khoa của bệnh viện Mayo Clinic xác nhận, với một trong những đồng nghiệp của chúng tôi, mối liên hệ giữa các thương tổn van tim và việc sử duug fenfluramine, thì khi đó loại thuốc này mới được rút một cách nhanh chóng ra khỏi thị trường vào năm 1997.
Hỏi : Thế thì tại sao Mediator đã không được rút ra khỏi thị trường sớm hơn ở Pháp ?
GS Lucien Abenhaim : Đó là câu hỏi được đặt ra. Nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã không bao giờ được thông tin về một quan hệ thân thuộc khả dĩ giữa các dược phẩm này. Nếu khi đó chúng tôi hay biết được, thì chúng tôi đã hết sức chú ý, cũng như chúng tôi đã chú ý đối với tất cả amphétamine, được sử dụng như là thuốc cắt đói (coupe-faim) ở Pháp, kể cả những thứ thuốc khá xa về mặt hóa học đối với fenfluramines. Chỉ mới gần đây tôi mới hay biết được rằng Mediator có những tính chất dược lý tương tự với Isoméride. Nhưng sự tương tự về lý thuyết không phải là một luận cứ đủ : không có một amphétamine nào mà chúng tôi đã khảo sát đã được xác nhận như là có nguy cơ gây cao huyết áp động mạch phổi (HTAP) cả. Những dữ kiện về những chất chuyển hóa chung norfenfuramine là thích đáng hơn về quan điểm này. Trong tất cả các trường hợp, những trường hợp lâm sàng được xác nhận đầu tiên của cao huyết áp động mạch phổi (HTAP) hay những trường hợp bệnh van tim xảy ra đồng thời với việc sử dụng những dược phẩm này biện minh cho một thái độ hết sức chú ý, trong một bối cảnh mà không ai có thể không biết đến những nghi ngờ về những dược phẩm này.
Hỏi : Đáng lý ra phải hành động khi nào và ra sao ?
GS Lucien Abenhaim : Trong tâm trí, tôi chắc chắn rằng một công trình nghiên cứu dịch tễ-dược (une étude pharmaco-épidémiologique) xứng đáng với danh xưng như vậy, đáng lý ra phải được phát động ngay khi có những dấu hiệu báo động đầu tiên. Than ôi, tôi đã phải chứng thực một cuộc chiến của các chiến hào chống lại những công trình như thế, vì những lý do tinh thần phường hội. Bảng báo cáo của Bégaud về tình trạng pharmaco-épidémiologie ở Pháp đã được tiếp đón rất tồi tệ, và đã bị chôn vùi. Xem xét chi tiết các báo cáo và các quyết định được đưa ra sẽ cho phép hiểu khi nào ta đã biết đủ để tác động lên các chỉ thị của dược phẩm. Đó là điều ta đã học mỗi ngày.
Hỏi : Làm sao cải thiện sự đánh giá các dược phẩm trong đất nước của chúng ta ? Chính ông, khi làm những nghiên cứu được tài trợ bởi các nhà công nghiệp, há ông cũng không chịu những xung đột về quyền lợi hay sao ?
GS Lucien Abenhaim : Tất cả các công trình nghiên cứu mà chúng tôi tiến hành được đòi hỏi bởi giới hữu trách y tế, hay được đệ trình lên họ và những công trình này được sự đánh giá độc lập. Công trình nghiên cứu về các thuốc cắt đói (coupe-faim) chủ yếu đã được tài trợ bởi hãng Servier. Mặc dầu thế, điều đó đã không ngăn cản chúng tôi, một cách không mập mờ, kết luận về mối liên hệ nhân quả giữa thuốc và HTAP. Ngược lại, một trong hai tác giả của bài báo chống lại công trình nghiên cứu, một tác giả thuộc Havard và tác giả kia vừa mới ra khỏi FDA ! Vậy thật là ngây thơ khi tin rằng sự độc lập của các công trình nghiên cứu chỉ phụ thuộc vào sự tài trợ chúng hay tùy thuộc vào tính chất công hay tư của các tác giả. Và trái lại, cũng không phải là chướng tai gai mắt khi kẻ sản sinh ra nguy cơ lại là kẻ tài trợ cho sự đánh giá về mối nguy cơ này. Nhưng các luật lệ phải được trong sáng, với các khả năng tái giám định (contre-expertise). Chính như thế mà tất cả các công nghệ học được đánh giá, bởi vì chính quyền không có phương tiện lẩn năng lực để thực hiện những nghiên cứu đánh giá quy mô lớn. Vai trò của các cơ quan y tế là đòi hỏi những công trình theo dõi (étude de suivi) cũng như các cơ quan này đã đòi hỏi những nghiên cứu trước khi cấp giấy phép (étude d’autorisation) và áp dụng cùng những yêu cầu về kiểm tra. Các cơ quan y tế không được sợ các nghiên cứu này cũng như những kết quả của chúng.
(LE FIGARO 23/1/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(7/3/2011)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s