Cấp cứu nội khoa số 32 – 07/2009

Cấp Cứu Nội Khoa số 32 (Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh)
HỘI CHỨNG ĐỘNG MẠCH VÀNH CẤP TÍNH (SYNDROME CORONARIEN AIGU)
F. ADNET
MCU, PH, Samu 93, Bobigny, France

PHẦN III
I/ ĐỊNH NGHĨA : 
Thuật ngữ hội chứng động mạch vành cấp tính (Syndrome coronarien aigu : SCA) được sử dụng để chỉ toàn bộ bệnh lý cấp tính của động mạch vành mà theo truyền thống được chia thành cơn đau thắt ngực (angor), cơn đau thắt ngực không ổn định (angor instable) và nhồi máu cơ tim (infarctus du myocarde). Nhồi máu cơ tim là một bộ phận của hội chứng động mạch vành cấp tính và được định nghĩa như là sự hoại tử cơ tim, được xác nhận bởi một trong hai tiêu chuẩn sau đây :
1/ sự gia tăng của các chỉ dấu men (marqueurs enzymatiques) (troponine, CPK-MB), liên kết với ít nhất một trong những tiêu chuẩn sau đây :
a/ triệu chứng lâm sàng của cơn đau thắt ngực.
b/ sự xuất hiện sóng Q bệnh lý.
c/ sự nâng cao hay hạ của đoạn ST (sus- ou sous-décalage du segment ST)
d/ sự can thiệp lên hệ mạch vành (angioplastie)

2/ những thương tổn giải phẫu bệnh hoại tử cơ tim
Hội chứng động mạch vành được chia thành 2 nhóm : Hội chứng động mạch vành với nâng cao đoạn ST (SCA avec sus-décalage du segment ST) và hội chứng động mạch vành không nâng cao đoạn ST (SCA sans élévation du segment ST). Trong hội chứng động mạch vành không nâng cao đoạn ST, người ta phân biệt cơn đau thắt ngực không ổn định (angor instable) và nhồi máu cơ tim không nâng cao đoạn ST. Tập hợp trong cơn đau thắt ngực không ổn định là cơn đau thắt ngực lúc nghỉ ngơi (angor de repos), cơn đau thắt ngực mới xảy ra (angor de novo), cơn đau thắt ngực sau nhồi máu cơ tim (angor post-infarctus), hay các cơn đau thắt ngực gây nên bởi những gắng sức nhỏ bé nhất. Nhồi Máu Cơ Tim không có nâng cao đoạn ST được định nghĩa như là một cơn đau động mạch vành lúc nghỉ ngơi trong 24 giờ với biển đổi tái phân cực ở điện tâm đồ (sous-décalage hoặc sóng T âm tính) hoặc gía tăng chỉ dấu sinh học (marqueur biologique) của cơ tim thiếu máu (troponine, CPK-MB). Nhồi Máu Cơ Tim có nâng cao đoạn ST bao gồm nhồi máu cơ tim không có sóng Q và nhồi máu cơ tim có sóng Q.
Sự nâng cao đoạn ST (élévation du segment ST) được định nghĩa như một sự nâng cao trong hai địa phận phù hợp nhau (ví dụ V1 và V2 hay D2 và D3).
Số điểm TIMI (Score TIMI), là số điểm tiên đoán (score prédictif) về khả năng mắc bệnh và tử vong, vừa mới được xác lập gần đây để xếp loại các bệnh nhân có nguy cơ. Số điểm này có thể là một luận cứ quyết định trong những lựa chọn điều trị.
II/ THÁI ĐỘ XỬ TRÍ TRONG TRƯỜNG HỢP HỘI CHỨNG ĐỘNG MẠCH VÀNH KHÔNG NÂNG CAO ĐOẠN ST :
Thực thể bệnh lý này tương ứng với cơn đau thắt ngực không ổn định (angor instable). Sinh lý bệnh lý liên kết với hội chứng này bao gồm sự vỡ một mảng vữa xơ động mạch (plaque d’athérosclérose) , một sự co mạch và sự hình thành một cục huyết khối gây bán tắt (thrombus sub-occlusif) nơi chỗ vỡ. Thái độ điều trị ban đầu bao gồm sự điều chỉnh tất cả các yếu tố khả dĩ làm trầm trong thêm hội chứng động mạch vành cấp tính : trị chứng thiếu máu, cho oxy trong trường hợp giảm oxy huyết (hypoxémie), ổn định huyết áp, hạ nhiệt nếu có sốt.


A/ ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC :
1/ ĐIỀU TRỊ CHÓNG KẾT TỤ (TRAITEMENT ANTIAGREGANT) :
Điều trị chống kết tụ tiểu cầu đã được chứng tỏ có hiệu quả lâu dài trên tỷ lệ tử vong trong điều trị nhồi máu cơ tim và cơn đau thắt ngực không ổn định (angor instable). Aspirine phải được cho càng sớm càng tốt.Tác dụng điều trị bắt đầu sau 15’. Liều lượng khuyên sử dụng không được xác định một cách chắc chắn, thay đổi từ 160 đến 325 mg mỗi ngày đối với người trưởng thành. Ở Pháp thường cho liều lượng hàng ngày 250 mg. Trong trường hợp dị ứng, có thể sử dụng ticlopidine (Ticlid), có hiệu quả điều trị kéo dài hơn. Một loại thuốc chống kết tụ tiểu cầu mới là các anti-GpIIb-IIIa (abciximab, Reopro).Thuốc này hiện tại đang trong vòng được đáng giá. Hiện nay được chỉ định sử dụng trong trường hợp chụp động mạch vành (coronarographie) phải được thực hiện cấp cứu.
2/ ĐIỀU TRỊ CHỐNG ĐÔNG (TRAITEMENT ANTICOAGULANT) :
Các antithrombines có một vai trò trong điều trị hội chứng động mạch vành cấp tính không có nâng cao đoạn ST. Dường như sự kết hợp aspirine-héparine hữu ích hơn hết trong ngăn ngừa nguy cơ tử vong hoặc tái phát nhồi máu cơ tim. Héparine được cho với liều lượng 80 ui/kg rồi 18 ui/kg/h tiêm truyền liên tục sau đó. Liều lượng phải thích ứng với kết quả của INR (từ 2 đến 2,5). Một nghiên cứu chứng tỏ HBPM (héparine à bas poids moléculaire, héparine có trọng lương phân tử thấp) có ưu thế hơn héparine standard (héparine non fractionnée).Trong nghiên cứu này, các bệnh nhân của nhóm HBPM được điều trị với énoxaparine (Lovenox, Clexane) 1mg/kg, mỗi 12 giờ. Hiện nay, do đơn giản trong sử dụng, kết hợp aspirine-HBPM dường như là điều trị được chọn lựa của hội chứng động mạch vành cấp tính không nâng cao đoạn ST.
3/ VAI TRÒ CỦA CÁC THUỐC LÀM TAN HUYẾT KHỐI (THROMBOLYTIQUES) :
Các thuốc làm tan huyết khối (thrombolytiques) hiện tại không có chỉ định trong điều trị hội chứng động mạch vành cấp tính không có nâng cao đoạn ST.
4/ DERIVES NITRES :
Các dẫn xuất nitré làm giảm hồi lưu tĩnh mạch (retour veineux) bằng cách làm gia tăng tác dụng dung năng (effet capacitif) của tuần hoàn tĩnh mạch. Vậy thuốc làm giảm tiền gánh (précharge) của tâm thất phải và làm nhẹ công của tim. Hơn nữa thuốc này có một tác dụng chống co thắt động mạch vành. Những dẫn xuất nitré được cho bằng đường dưới lưỡi khi bị cơn đau thắt ngực có thể làm giảm cơn đau này rất nhanh và là một trắc nghiệm chẩn đoán. Tuy nhiên không có một công trình nghiên cứu đáng tin cậy nào đã chứng tỏ một lợi ích nào đó về tỷ lệ tử vong lâu dài liên kết với việc cho những dẫn xuất nitré vào giai đoạn cấp tính của nhồi máu cơ tim. Thuốc này có thể được cho dưới dạng spray dưới lưỡi (Natispray, Cédocard ; 1 spray) và/hoặc bằng đường tĩnh mạch (Lénitral, Cédocard) bằng truyền liên tục. Liều lượng được thích ứng tùy theo tình trạng huyết động của bệnh nhân (bắt đầu 1mg/giờ và thích ứng theo từng bậc thang 0,5 mg/giờ).
5/ BETA-BLOQUEURS.
Trong cơn đau thắt ngực không ổn định, việc cho một bêta-bloqueur có thể có một lợi thế về mặt lý thuyết do sự giảm tiêu thụ oxy của cơ tim, gây nên do sự hạ tần số tim. Tuy nhiên, ngoài nhồi máu cơ tim ở giai đoạn cấp tính, việc cho bêta-bloqueurs đã không chứng tỏ được hiệu quả trên sự giảm tỷ lệ tử vong.
B/ CÁC CHỈ ĐỊNH CỦA SỰ TÁI TẠO MẠCH CẤP CỨU (REVASCULARISATION EN URGENCE).
Có nhiều lý lẽ quyết định để làm một bệnh nhân bị hội chứng động mạch vành cấp tính không nâng cao đoạn ST, được hưởng một kỹ thuật tái tạo máu cấp cứu (revascularisation en urgence) (chủ yếu là phẫu thuật tạo hình động mạch vành, angioplastie). Những lý lẽ này là sự xác nhận của tính không hiệu quả của điều trị nội khaa sau 30 phút, một bệnh nhân có nguy cơ cao, được đánh giá bởi số điểm TIMI, một sự trầm trọng của các triệu chứng cùng với sự xuất hiện của đoạn ST được nâng cao. Chụp động mạch vành cho phép xác lập bilan của những thương tổn động mạch vành và thực hiện một phẫu thuật tạo hình động mạch vành (angioplastie). Sau cùng, một chỉ định bắt cầu động mạch vành (pontage coronarien) hay đặt một ballonnet de contrepulsion sẽ có thể được thực hiện.
III/ THÁI ĐỘ XỬ TRÍ TRONG TRƯỜNG HỢP HỘI CHỨNG ĐỘNG MẠCH VÀNH VỚI NÂNG CAO ĐOẠN ST.
A. QUYẾT ĐỊNH THÔNG MÁU SỚM (Décision d’une perfusion précoce)
Các hội chứng động mạch vành cấp tính với nâng cao đoạn ST gồm có nhồi máu cơ tim ở giai đoạn cấp tính, có hoặc không có sóng Q. Mục đích của điều trị là mở càng sớm càng tốt động mạch vành gây nên sự thiếu máu cục bộ cơ tim và tránh tiến triển thành nhồi máu cơ tim với sóng Q có tiên lượng xấu. Tỷ lệ bệnh tật và tử vong của nhồi máu cơ tim liên hệ trực tiếp với thời hạn tái thông máu (délai de reperfusion).Vậy chỉ định tái thông máu cấp cứu trước một hội chứng động mạch vành cấp tính với nâng cao đoạn ST không cần phải bàn cãi. Có hai kỹ thuật lớn : liệu pháp tan sợi huyết (fibrinolyse) hay tan huyết khối (thrombolyse) và phẫu thuật tạo hình động mạch vành (angioplastie transluminale).
1/TAN SỢI HUYẾT (FIBRINOLYSE).
Các thuốc làm tan huyết khối (thrombolytiques) là những thuốc hoạt hóa plasminogène. Hai thuốc làm tan sợi huyết (fibrinolytiques) hiện được sử dụng :
rt-PA (Actilyse) và TNK-tPA (Métalyse). Các tác nhân này rất đặc hiệu với sợi huyết. Ưu điểm của TNK-tPA là cho thuốc trực tiếp bằng đường tĩnh mạch với một liều duy nhất và, có lẽ, một sự giảm tỷ lệ bị những tai nạn xuất huyết, so sánh với rt-PA. Hiện nay người ta ước tính rằng điều trị làm tan sợi huyết cấp cứu mang lại một lợi ích chắc chắn nếu điều trị được thực hiện giờ thứ 12 sau khi cơn đau phát khởi. Những tiêu chuẩn tái thông máu (critères de reperfusion) cho phép đánh giá hiệu quả của điều trị tiêu sợi huyết mặc dầu những tiêu chuẩn này không hoàn toàn đặc hiệu. Đó là sự xuất hiện một rythme idioventriculaire accéléré (RIVA) hay một rối loạn nhịp thất, sự biến mất của cơn đau, sự trở lại đường đẳng điện của đoạn ST và một đỉnh cao sớm của các chất chỉ dấu men (marqueur enzymatique). Sự tồn tại của một triệu chứng đau thắt ngực 90 phút sau một điều trị tiêu sợi huyết phải được xem như là một thất bại của điều trị.Tuy nhiên, chiến lược tiêu sợi huyết đơn thuần bị hạn chế bởi một số kết quả nào đó. Những thuốc tiêu sợi huyết chỉ làm mở hoàn toàn động mạch vành trong 60% các trường hợp. Tỷ lệ những trường hợp tái tắc là quan trọng (25% sau 3 tháng). Có những dấu hiệu giảm thông máu mô cơ tim nơi 60% các bệnh nhân với một flux TIMI 3 có được nhờ liệu pháp tiêu sợi huyết.Tỷ lệ các biến chứng loại xuất huyết não tương đối cao (0,5%-1%).

PROTOCOLE CHO THUỐC TAN HUYẾT KHỐI TRONG ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG ĐỘNG MẠCH VÀNH CẤP TÍNH VỚI NÂNG CAO ĐOẠN ST.

CÁC CHỐNG CHỈ ĐỊNH CỦA CÁC THUỐC LÀM TAN HUYẾT KHỐI.
– Cao huyết áp nghiêm trọng không được điều trị (HA tâm thu > 180mmHg hay HA trương tâm > 110mmHg).
– Can thiệp ngoại khoa quan trọng trong hai tháng trước đó. – Chấn thương quan trọng hay chấn thương sọ nhẹ xảy ra trong hai tháng vừa rồi.
– Tiền sử tai biến mạch máu não, tai biến thiếu máu cục bộ tạm thời (AIT) hay sa sút trí tuệ. – Bệnh thần kinh.
– Hồi sức tim-hô hấp kéo dài > 10 phút
– Đang điều trị kháng đông. – Có thai, đang cho bú, mới sinh dưới 30 ngày.
– Tăng nhạy cảm đối với một trong những loại thuốc được sử dụng.
– Nghi lóc động mạch chủ (dissection aortique) hay viêm màng ngoài tim. – – Loét tiêu hóa đang tiến triển.
– Ung thư hay các dị dạng trong sọ.
Các chống chỉ định tương đối :
– Cao huyết áp không được kiểm soát
– Suy thận hay gan
– Xoa bóp ngoài tim
– Ung thư
– Tiêm mông < 6 giờ
– Điều trị với AVK
– Đái đường với bệnh võng mạc

2/ ĐIỀU TRỊ THUỐC BỔ SUNG CỦA FIBRINOLYSE.
Những thuốc đã chứng tỏ hiệu quả trong điều trị cơn đau thắt ngực không ổn định cũng có tác dụng trong điều trị hội chứng động mạch vành với nâng cao đoạn ST.
a/ ASPIRINE
Aspirine cho với lượng nhỏ đã chứng tỏ tính hiệu quả trong sự làm giảm tỷ lệ tử vong trong điều trị nhồi máu cơ tim ở giai đoạn cấp tính. Thuốc này có thể làm chậm, thậm chí ngăn cản sự tái tắc động mạch vành (ré-occlusion coronaire). Aspirine được cho với liều lượng 160-325 mg mỗi ngày.
b/ BETA-BLOQUEURS
Các bêta-bloqueurs dường như mang lại mối lợi ích khi cho bổ sung trị liệu tiêu sợi huyết và với điều kiện tôn trọng những chống chỉ định. Một trong những bêta-bloqueurs thường được sử dụng nhất là aténolol (Ténormin). Sau một liều tấn công 5-10 mg, thuốc này được tiêm rất chậm dưới sự kiểm tra huyết áp và monitoring. Mục tiêu là đạt được một tần số tim từ 50-60 đập/phút. Lợi ích dường như được liên kết với việc cho thuốc sớm (trong 2 giờ đầu).

CHỐNG CHỈ ĐỊNH CỦA BETA-BLOQUEURS TRONG GIAI ĐOẠN CẤP TÍNH CỦA NHỒI MÁU CƠ TIM.
– Tần số tim 65 /phút
– Huyết áp tâm thu 105 mmHg – Suy tim
– Hen phế quản
– Bệnh phổi mãn tính tắc nghẽn thể nặng

c/ ANTI-Gp IIb-IIIa
Loại thuốc này đã không chứng tỏ ưu thế của nó khi được liên kết với một thuốc tiêu sợi huyết.
d/ INHIBITEUR DE L’ENZYME DE CONVERSION
Thuốc này liên kết với một sự giảm của giãn tâm thất sau nhồi máu, nguyên nhân của tiên lượng xấu. Captopril (6,25 mg rồi 100mg/ngày trong 1 tháng) đã chứng tỏ hiệu quả của nó. Những chỉ định ưu tiên là nhồi máu cơ tim thành trước, sự hiện diện của một loạn năng tâm thất trái (dysfonction ventriculaire gauche) và bệnh nhân lớn tuổi (>70 tuổi).
e/ CÁC DẪN XUẤT NITRE
Loại thuốc này, mặc dầu được cho rộng rãi trong chỉ định này, đã không chứng tỏ tính hiệu quả của chúng. Do đó thuốc không được khuyên cho một cách hệ thống. Các dẫn xuất nitré có thể có một vai trò như trắc nghiệm chẩn đoán hay để chống đau.
f/ HEPARINE VA HBPM
Những điều trị hỗ trợ kháng đông cho phép làm giảm tỷ lệ những trường hợp tái tắc động mạch vành. Héparine phải được liên kết với rt-PA và enoxaparine với TNK-tPA.
3/ ANGIOPLASTIE TRANSLUMINALE
Sự tạo hình mạch (angioplastie) là một giải pháp khác của quyết định tái phân bố mạch (revascularisation vasculaire) vành. Hiệu quả của nó càng lớn khi sự thực hiện càng sớm. Cũng như fibrinolyse, kỹ thuật này đã chứng tỏ hiệu quả về mặt tỷ lệ bệnh và tử vong trong điều trị nhồi máu cơ tim ở giai đoạn cấp tính. Khi đã quyết định, bệnh nhân có thể hưởng một điều trị bổ sung với thuốc chống ngưng kết (antiagrégant) thuộc loại anti-Gp IIb-IIIa.
B. SỰ LỰA CHỌN GIỮ HAI CHIẾN LƯỢC TÁI TƯỚI MÁU (Choix entre les stratégies de reperfusion)
Sự lựa chọn giữa hai chiến lược tái thông máu không phải đặt ra khi có những chỉ định chính thức của kỹ thuật này hoặc kỹ thuật kia. Những chỉ định chính thức của chụp động mạch vành cấp cứu với một tạo hình mạch (angioplastie) được dự kiến là :
(1) những chống chỉ định của liệu pháp tan huyết khối (fibrinolyse)
(2) thất bại của liệu pháp tan huyết khối.
(3) sốc do tim (choc cardiogénique)
(4) nghi ngờ chẩn đoán (ECG không góp phần, bloc nhánh trái có trước..)
Chỉ định chính thức của liệu pháp tan huyết khối (fibrinolyse) là sự không có sẵn để sử dụng nhanh chóng một plateau d’angioplastie.
Một công trình nghiên cứu mới đây (nghiên cứu CAPTIM) so sánh liệu pháp tan huyết khối trước bệnh viện và sự tạo hình mạch. Các kết quả không nhận thấy sự khác nhau đáng kể về tham số đánh giá chính. Tham số này là tử vong, tái nhồi máu và tai biến mạch máu não không chết người sau một tháng.Tuy nhiên, tương lai có lẽ thuộc về những chiến lược phối hợp, liên kết tan huyết khối và chụp động mạch vành một cách hệ thống.
III/ ĐIỀU TRỊ CÁC BIẾN CHỨNG CỦA HỘI CHỨNG ĐỘNG MẠCH VÀNH.
A. NHỒI MÁU TÂM THẤT PHẢI.
Nhồi máu tâm thất phải là biến chứng của khoảng 50% những nhồi máu thành dưới cơ tim (IDM inférieurs). Những dấu hiệu lâm sàng làm nghi ngờ nhồi máu tâm thất phải là hạ huyết áp không có dấu hiệu của suy tim trái (không có crépitants, không có khó thở) và những dấu hiệu suy tim phải (các tĩnh mạch cổ nổi ). Trong trường hợp tối đa, có thể có một bệnh cảnh suy tâm thất phải cấp tính. Điện tâm đồ phát hiện một nâng cao đoạn ST trong các chuyển đạo tim phải (V3R, V4R). Sự hiện diện của một dạng QS trong những chuyển đạo này cũng là một yếu tố chẩn đoán tốt. Điều trị dựa trên quyết định làm thông trở lại động mạch vành (une reperméabilité coronaire) càng sớm càng tốt, bằng liệu pháp tan huyết khối (fibrinolyse) hay/ và bằng tạo hình mạch (angioplastie). Sự duy trì một tiền gánh (précharge) của tâm thất phải là thiết yếu, vì vậy các dẫn xuất nitrés, các thuốc lợi tiểu và các morphiniques bị chống chỉ định.Trong trường hợp hạ huyết áp, một sự làm đầy (remplissage) có thể là nguy hiểm. Thật vậy, do tâm thất phải vốn đã bị giãn, với những áp suất làm đầy (pressions de remplissage) gia tăng, do đó sự gia tăng hồi lưu tĩnh mạch (retour veineux) có khả năng làm trầm trọng một chuyển động nghịch lý (un mouvement paradoxal) của thành liên thất trong tâm thất trái, như thế làm giảm sự làm đầy tâm thất (remplissage ventriculaire) .
B/ RUNG THẤT (FIBRILLATION VENTRICULAIRE) :
Rung thất là cơ chế của ngừng tim-hô hấp (ACR : arrêt cardiorespiratoire) thường xảy ra nhất của nhồi máu cơ tim ở giai đoạn cấp tính. Tỷ lệ mắc phải là khoảng 2% của những nhồi máu cơ tim ở giai đoạn cấp tính. Điều trị không khác với điều trị ngừng tim-hô hấp do rung thất và được căn cứ trên sự cho sốc điện ngoài (choc électrique externe). Tiên lượng tốt nếu sốc điện được phát ra trong phút sau khi chứng nhận rung thất. Một điều trị bằng amiodarone (Cordarone) sau đó có thể hữu ích nhằm ngăn ngừa tái phát.
C. SỐC DO TIM
Sốc do tim là một dấu hiệu của một nhồi máu cơ tim lan rộng hay một biến chứng cơ học. Tỷ lệ tử vong quan trọng và khoảng 70 đến 80%. Bệnh cảnh lâm sàng liên kết một sự không hiệu quả huyết động (tụt huyết áp, những dấu hiệu giảm tưới máu ngoại biên) và những dấu hiệu suy tim trái (phù phổi cấp) và/hoặc phải. Trong những tình trạng này, phải tái lập càng nhanh càng tốt một sự đẩy máu đầy đủ vào các động mạch vành. Chỉ có tạo hình mạch vành xuyên lòng (angioplastie coronaire transluminale) là đã chứng tỏ có hiệu quả, các điều trị với các thuốc tan huyết khối làm thất vọng (áp lực đẩy máu động mạch vành quá yếu để cho thuốc làm tan huyết khối có thể được phân bố, huyết khối quá quan trọng). Tạo hình mạch vành được thực hiện sau khi thiết đặt một ballon de contre-pulsion trong động mạch chủ. Trong trường hợp tạo hình mạch vành thất bại, có thể đề nghị phẫu thuật tái tưới máu (revascularisation chirurgicale). Những chỉ định đặt ống thông nội khí quản và thông khí cơ học phải rộng rãi, bởi vì sự thông khí này là một hổ trợ tuần hoàn thật sự trong sốc do tim xảy ra trong nhồi máu cơ tim.
D. CÁC BIẾN CHỨNG CƠ HỌC.
1/ Bất túc van hai lá (Insuffisance mitrale) : Bệnh van này gây biến chứng cho 3% các trường hợp nhồi máu cơ tim ở giai đoạn cấp tính và thông thường nhất liên kết với một thương tổn của các piliers. Chẩn đoán được thực hiện bằng siêu âm trước sự xuất hiện của một tiếng thổi thu tâm và/hoặc dấu hiệu của sốc do tim. Điều trị nội khoa liên kết những thuốc lợi tiểu, những thuốc giãn mạch, những thuốc inotrope (dolbutamine). Sự xuất hiện một sốc do tim chỉ định sự thiết đặt một ballon de contre-pulsion intra-aortique. Điều trị vĩnh viễn là phẫu thuật.
2/ Thông liên thất (Communication intraventriculaire) : Tần số xảy thông liên thất (CIV: communication intraventriculaire) là khoảng 1 đến 2% của nhồi máu cơ tim. Tỷ lệ tử vong ở giai đoạn cấp tính khoảng 50%. Thông liên thất xuất hiện trong những ngày sau khi bị nhồi máu cơ tim. Bệnh cảnh lâm sàng liên kết sự xuất hiện của một tiếng thổi thu tâm cường độ mạnh, bên bờ trái xương ức và lan theo hình tăm bánh xe (en rayon de roue). Một bệnh cảnh trụy tim mạch là dấu hiệu một thể nặng. Điều trị duy nhất là ngoại khoa cấp cứu sau khi đặt ballon de contre-pulsion. Nhưng tỷ lệ tử vong trong và sau phẫu thuật cao. Trong truờng hợp thành công can thiệp ngoại khoa, tiên lượng lâu dài là tốt.
3/ Vỡ tim : Vỡ tim là một rách cơ tim, nguồn gốc của tràn máu màng ngoài tim (hémopéricarde). Vỡ tim xảy ra ở giai đoạn cấp tính của nhồi máu cơ tim. Bệnh cảnh lâm sàng thường là bệnh cảnh của một sự không hiệu quả về mặt huyết động, dẫn đến ngừng tim-hô hấp thuộc loại phân ly điện-cơ học (dissociation électromécanique) (có nhịp nhưng không có mạch). Có những thể bán cấp, sinh ra những phình mạch giả (faux anévrismes). Dấu hiệu lâm sàng duy nhất là cơn đau ngục phát khởi trở lại, nhất là thuộc loại viêm màng ngoài tim. Chẩn đoán với siêu âm tim được thực hiện cấp cứu. Điều trị ngoại khoa cực kỳ khẩn cấp với sự sửa chữa tim bị rách.

Reference : Pratique de la Réanimation et de la Médecine d’Urgence

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(27/7/2009)

Bài này đã được đăng trong Bài lưu trữ (chuyên đề y khoa), Cấp cứu nội khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s